Tảo khuê (tảo silic) là nhóm vi tảo có lớp vỏ cứng làm từ silic. Chúng tạo cho nước màu vàng nâu như nước trà và là nhóm tảo có lợi nhất trong ao nuôi tôm nước lợ, nước mặn. Điểm yếu của tảo khuê là phụ thuộc hoàn toàn vào silic hòa tan: khi silic trong ao cạn dần từ giữa vụ, tảo lam và tảo giáp sẽ chiếm chỗ chỉ sau vài ngày. Sau đây, Green Bio sẽ hướng dẫn người nuôi cách nhận đúng tảo khuê trong ao nuôi tôm, cách gây màu nước tảo khuê trước khi thả giống và cách giữ màu nước đó đến lúc thu hoạch.

Tảo khuê là gì? Vì sao được xem là nhóm tảo đáng giữ nhất trong ao tôm nước lợ?
Khi người nuôi múc một ly nước ao màu trà sáng, không váng, không mùi tanh, khả năng cao đó là tảo khuê đang chiếm ưu thế. Đây là nhóm vi tảo đơn bào. Mỗi tế bào nằm gọn trong một lớp vỏ silic gồm hai mảnh úp vào nhau như hộp và nắp. Chính lớp vỏ này làm tảo khuê khác hẳn những nhóm còn lại trong hệ tảo trong ao nuôi tôm.

Ao tôm ở nước ta thường gặp các chi tảo khuê sau: Thalassiosira (dạng đĩa tròn), Chaetoceros (kết chuỗi, có gai dài), Skeletonema (chuỗi hạt), Navicula và Nitzschia (hình thuyền, hay bám đáy). Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ (2022) khảo sát ao tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tại Bạc Liêu.
Kết quả cho thấy tảo khuê chiếm 8/16 loài tảo ghi nhận được, mật độ trung bình khoảng 2,6-2,8 triệu tế bào/lít, riêng Thalassiosira chiếm 84-99% quần thể. Nghĩa là ở ao siêu thâm canh, “màu nước trà” thường chỉ do một chi tảo đơn lẻ duy trì. Vì vậy màu này đẹp nhưng dễ đổ vỡ.

Tảo khuê được quý vì ba lý do đặc thù:
- Giàu acid béo không no (EPA, DHA): tôm post ăn tảo khuê và động vật phù du ăn tảo khuê sẽ có nguồn chất béo tự nhiên tốt cho quá trình lột xác.
- Hầu như không sinh độc tố trong điều kiện ao tôm. Trong khi đó tảo lam tiết microcystin, còn tảo giáp có thể tiết độc tố thần kinh.
- Biên độ pH ngày đêm hẹp hơn so với ao bị tảo lam hoặc tảo mắt chiếm ưu thế, vì tảo khuê ít khi bùng lên quá dày trong một buổi chiều nắng.

Tuy vậy, “ít độc” không có nghĩa là vô hại. Khi độ trong dưới 25 cm, tảo khuê vẫn hút oxy mạnh về đêm. Nếu cả khối tảo tàn cùng lúc, đáy ao sẽ nhận một lượng xác tảo rất lớn.
Silic quyết định tảo khuê sống hay tàn như thế nào?
Các nhóm tảo khác chỉ cần đạm (N) và lân (P) để sinh sôi. Tảo khuê cần thêm silic để tạo vỏ, và mỗi lần phân bào phải đúc lại một mảnh vỏ mới. Ao thiếu silic thì tảo khuê ngừng phân chia, dù đạm và lân vẫn còn dư. Lượng đạm, lân dư đó lập tức thành thức ăn cho tảo lam, tảo giáp.

Vỏ silic khiến tảo khuê “đói” theo cách khác các loại tảo
Silic trong ao không quay vòng nhanh như đạm. Đạm từ thức ăn thừa và phân tôm được vi khuẩn phân giải trở lại nước chỉ trong vài ngày (xem thêm chu trình nitơ trong ao). Silic thì nằm trong vỏ tảo chết, chìm xuống đáy và hòa tan trở lại rất chậm. Thức ăn công nghiệp hầu như không bổ sung silic cho ao. Vụ nuôi càng kéo dài, lượng đạm nạp vào càng tăng, còn silic chỉ giảm dần.
Người nuôi nên nhớ giữ tỷ lệ đạm và silic ở 3:1
Theo tổng hợp của GS. Claude E. Boyd (Đại học Auburn), khi tỷ lệ N:Si trong nước vượt quá khoảng 3:1, tốc độ sinh trưởng của tảo khuê bắt đầu chậm lại. Nước biển tự nhiên chứa khoảng 6,4 mg/L silica (SiO₂), nước ngọt thường từ 5 đến 25 mg/L. Ao lấy nước biển nghèo silic hoặc ao bạt dùng lại nước nhiều lần là hai trường hợp dễ chạm ngưỡng này nhất.
Tóm lại, nước ao chuyển từ màu trà sang xanh đậm vào tháng nuôi thứ hai thường không phải “tự nhiên đổi màu”. Đó là lúc tỷ lệ đạm/silic đã nghiêng hẳn về phía bất lợi cho tảo khuê.
Vì sao tảo khuê dễ chìm khi ao lặng gió?
Vỏ silic nặng hơn nước. Tảo khuê không có roi để bơi như tảo giáp hay tảo mắt, cũng không có túi khí để nổi như tảo lam. Chúng sống lơ lửng nhờ dòng nước. Ao tắt quạt lâu, nhất là những ngày trời lặng, tảo khuê chìm dần xuống tầng đáy tối và chết. Tảo lam thì nổi lên mặt và hưởng hết ánh sáng. Vì vậy, ở ao đang có màu trà đẹp, giữ quạt chạy đều trong ngày (kể cả một phần buổi trưa) cũng là một cách “nuôi” tảo khuê.
Nhìn nước nâu thế nào để biết đúng là tảo khuê?
Nhiều người nuôi thấy nước nâu là yên tâm, nhưng tảo giáp, nước nhiễm phèn hay nước có phù sa cũng cho màu nâu. Nhầm tảo giáp thành tảo khuê thì bỏ lỡ thời điểm xử lý. Ngược lại, nhầm tảo khuê thành tảo giáp rồi đánh hóa chất cắt tảo thì tự tay phá đi màu nước tốt nhất của ao.

Mẹo đơn giản nhất là thử ly nước. Múc nước ở tầng giữa ao vào ly thủy tinh trong, đặt chỗ sáng 30-60 phút rồi quan sát:
- Tảo khuê không bơi được nên lắng dần, tạo một lớp cặn mịn màu vàng nâu ở đáy ly, phần nước phía trên trong hơn.
- Tảo giáp và tảo mắt có roi nên bơi về phía có ánh sáng, tụ thành vệt ở thành ly hướng ra sáng hoặc ở mặt nước.
- Phù sa cũng lắng nhưng cặn có màu đất, sờ thấy sạn. Nước phèn thì trong ngả vàng, cặn màu gỉ sét.
| Tiêu chí | Tảo khuê | Tảo giáp | Nước đục phù sa | Nước nhiễm phèn sắt |
|---|---|---|---|---|
| Màu nước | Vàng nâu, nâu trà, đều khắp ao | Nâu đỏ, đỏ gạch, đậm ở cuối hướng gió | Nâu đất, đục | Vàng nhạt, vàng cam, trong |
| Váng mặt | Không | Có váng, tụ theo gió | Không | Váng ánh dầu hoặc gỉ ở mé bờ |
| Thử ly nước | Cặn mịn lắng đáy ly | Tảo tụ ở thành ly phía sáng | Cặn đất lắng nhanh | Cặn gỉ sét |
| Mùi | Mùi tươi, hơi tanh nhẹ mùi biển | Tanh, đôi khi hắc | Mùi bùn | Mùi chua |
| Diễn biến theo giờ | Màu khá ổn định cả ngày | Đậm lên rõ vào trưa, chiều | Đục sau mưa, sau quạt mạnh | Đậm sau mưa đầu mùa |
| Soi kính hiển vi | Vỏ cứng hình đĩa, thuyền hoặc chuỗi | Tế bào có rãnh, xoay khi bơi | Hạt vô định hình | Không thấy tế bào |
Nếu có kính hiển vi hoặc kính lúp điện thoại phóng đại 100-400 lần, người nuôi có thể nhận ra tảo khuê qua lớp vỏ có vân đều và viền rõ. Thalassiosira trông như đồng xu nhỏ, Chaetoceros là chuỗi tế bào với gai dài chĩa ra hai bên. Người nuôi có thể chụp ảnh mẫu soi và gửi cho kỹ sư Green Bio để được đọc giúp. Trường hợp nước ngả đỏ nhưng không chắc nguyên nhân, xem thêm cách phân biệt trong bài tảo đỏ trong ao tôm. Nếu ly nước lắng toàn đất, đó là chuyện nước ao tôm bị đục, không liên quan đến tảo.
Cách gây màu nước tảo khuê trước khi thả giống
Gây màu thông thường chỉ cần đạm, lân và vi sinh. Gây đúng tảo khuê thì phải quan tâm thêm ba thứ: nguồn nước có đủ silic không, độ mặn có phù hợp không và trong ao còn sót hóa chất diệt tảo hay không. Các bước gây màu chung (vi sinh, mật rỉ đường, cám ủ) đã có trong bài màu nước ao nuôi tôm. Phần dưới đây chỉ nói những điểm riêng của tảo khuê.

Nguồn nước và độ mặn quyết định tảo khuê có lên được không
Tảo khuê phát triển mạnh nhất ở nước lợ và nước mặn. Khi độ mặn xuống thấp (dưới khoảng 5‰), ưu thế thường nghiêng về tảo lục và màu nước chuẩn của ao lúc đó là xanh nõn chuối, không phải màu trà. Ao nuôi ở vùng ngọt hóa hoặc sau mưa dầm cần xem lại độ mặn nuôi tôm trước khi cố gây tảo khuê.
Lỗi hay gặp nhất ở bước này là dư lượng hóa chất. Sau khi diệt tạp bằng chlorine xử lý nước, nếu cấp vi sinh và gây màu khi clo chưa bay hết thì cả vi sinh lẫn tảo giống đều chết. Đồng sunfat và BKC dùng ở vụ trước cũng diệt tảo khuê không kém gì diệt tảo lam. Nên chờ ít nhất 48 giờ sau khi xử lý hóa chất mới đưa vi sinh vào, đồng thời kiểm tra dư lượng clo bằng bộ test trước khi gây màu.
Khi nào cần bổ sung silicat và tính liều thế nào?
Không phải ao nào cũng cần thêm silicat. Ao lấy nước biển tự nhiên hoặc nước lợ từ sông thường đã có đủ silic cho tảo khuê lên trong tuần đầu. Silicat chỉ đáng cân nhắc khi:
- Ao bạt dùng lại nước đã qua nhiều vụ, hoặc nước đã qua ao lắng dày tảo trong thời gian dài.
- Đã gây màu đúng kỹ thuật 5-7 ngày mà nước vẫn lên xanh thay vì vàng nâu, trong khi độ mặn vẫn phù hợp.
- Kết quả đo silica (bộ test silicat hoặc gửi mẫu phòng thí nghiệm) thấp hơn mức nước biển, khoảng 6,4 mg/L.
Cách tính liều theo thể tích ao: theo tài liệu của GS. Boyd, muốn tăng 1 mg/L SiO₂ cần khoảng 2,03 g sodium metasilicate cho mỗi m³ nước. Do chất này không tan hết, thực tế nên nhân thêm 1,5-2 lần. Với ao 1.000 m³, lượng cần dùng là khoảng 3-4 kg sodium metasilicate để tăng 1 mg/L silica. Nên bắt đầu ở mức này rồi theo dõi màu nước 2-3 ngày, không tăng liều vội.
Lưu ý: sodium metasilicate có tính kiềm rất mạnh. Cần hòa thật loãng, tạt rải đều khắp ao vào buổi sáng khi pH còn thấp. Không tạt khi pH chiều đã trên 8,5 và tuyệt đối không đổ dồn một chỗ gần tôm. Không dùng “thủy tinh lỏng” công nghiệp không rõ nguồn gốc. Silicat chỉ là chất bổ sung khi ao thật sự thiếu, không phải chất cứ tạt là có tảo khuê.
Dùng vi sinh làm nền để tảo khuê lên đều
Silic chỉ là “vật liệu xây vỏ”. Tảo khuê vẫn cần đạm, lân ở dạng dễ hấp thu và một nền nước không có quá nhiều vi khuẩn có hại. Nhóm Bacillus phân giải mùn bã, giải phóng dinh dưỡng chậm và đều. Cách này tốt hơn tạt thẳng phân vô cơ, vì phân vô cơ làm dinh dưỡng tăng vọt và tảo lam dễ bùng lên trước tảo khuê.

Ở bước này, Bio Clear phù hợp vì chứa Bacillus subtilis và Bacillus megaterium (tối thiểu 2,0 × 10⁹ CFU/kg), có công dụng ổn định tảo có lợi và giữ màu nước trà. Cách làm: ủ 1 gói Bio Clear với 3 kg đường mật và 37 lít nước (70% nước ngọt không clo, 30% nước ao), để ngoài nắng 4 giờ. Trước khi thả giống 2 ngày, đánh 40 lít dịch ủ cho 1.600 m³ nước, vào khoảng 9-10 giờ sáng có nắng để vi sinh và tảo cùng phát triển.
Gây tảo khuê ở ao bạt khác ao đất ở điểm nào?
Bùn sét đáy ao đất luôn giải phóng một lượng silic nhỏ vào nước. Ao bạt không có nguồn này, vì vậy ao bạt dễ lên màu trà ở tuần đầu nhưng cũng dễ mất màu nhất khi bước vào tháng thứ hai. Với ao bạt, nên ghi chép màu nước và độ trong mỗi sáng ngay từ ngày đầu. Nhờ đó, khi màu trà bắt đầu nhạt, người nuôi nhận ra sớm hơn vài ngày so với chỉ nhìn bằng cảm giác.
Vì sao tảo khuê có rồi lại mất từ tháng nuôi thứ hai?
“Đầu vụ nước đẹp lắm, qua tháng thứ hai tự nhiên xanh lè.” Đây là câu kỹ sư Green Bio nghe nhiều nhất khi ra ao vào mùa nắng. Phần lớn trường hợp không phải do một nguyên nhân duy nhất mà do nhiều yếu tố cộng dồn:
- Silic cạn, đạm dư: Lượng thức ăn tăng theo cỡ tôm nên đạm trong nước tăng nhanh, trong khi silic không được bổ sung. Tỷ lệ N:Si vượt ngưỡng và tảo khuê chậm dần.
- Lân tích tụ: Lân từ thức ăn và khoáng có lân tạo điều kiện cho tảo lam phát triển. Tảo lam không cần silic nên thắng thế rất nhanh khi tảo khuê yếu đi.
- Nắng gắt, nước nóng: Nhiều chi tảo khuê ưa nước mát hơn. Khi nhiệt độ nước kéo dài trên khoảng 32 °C, tảo lam và tảo giáp có lợi thế rõ rệt.
- Mưa lớn: Mưa làm giảm độ mặn, giảm kiềm và làm nước tầng mặt phân tầng, tảo khuê chìm và tàn hàng loạt.
- Đánh thuốc diệt khuẩn hoặc cắt tảo: BKC, iodine, đồng sunfat dùng để xử lý bệnh hay xử lý tảo lam cũng làm tảo khuê chết theo.
Tảo khuê tàn thường có những dấu hiệu khá rõ: màu trà nhạt dần trong 1-2 ngày rồi chuyển trong hoặc xanh nhạt, mặt nước có bọt trắng lâu tan, mé bờ và góc ao có lớp nhầy nâu, chênh lệch pH sáng chiều thu hẹp bất thường. Đáng lo nhất là oxy hòa tan về đêm giảm mạnh trong 1-2 đêm sau đó, vì xác tảo đang phân hủy ở đáy.
Giữ tảo khuê chiếm ưu thế giữa vụ cần làm gì?
Cách xử lý phụ thuộc vào việc tảo khuê đang yếu dần, vừa tàn đột ngột hay đã bị tảo khác chiếm chỗ. Bảng dưới đây giúp người nuôi xác định ao mình đang ở tình huống nào.
| Tình huống | Dấu hiệu tại ao | Việc cần làm |
|---|---|---|
| Tảo khuê nhạt dần | Màu trà nhạt hơn, độ trong tăng lên trên 40 cm, chưa có váng lạ | Giảm khoáng có lân, giữ quạt đều, kiểm tra silica và bổ sung nhẹ nếu thấp, gây màu bổ sung từ ao lắng |
| Tảo khuê tàn đột ngột | Nước trong nhanh sau mưa hoặc nắng gắt, bọt trắng, nhầy nâu ở góc ao | Tăng quạt và sục khí đêm, giảm ăn, đánh vi sinh xử lý đáy, đo NH₃ và NO₂ |
| Tảo lạ đã lấn | Nước xanh đậm có váng, hoặc nâu đỏ tụ theo gió, pH chiều trên 8,5 | Xử lý tảo lam hoặc tảo giáp trước, sau đó gây lại tảo khuê |
Khi tảo khuê nhạt dần nhưng chưa có tảo lạ
Đây là thời điểm can thiệp rẻ nhất. Nếu kiểm tra thấy silica thấp, bổ sung silicat theo cách tính ở trên, nhưng chỉ khoảng một nửa liều gây màu ban đầu. Song song, nên cấp vào ao một phần nước đã lên màu trà sẵn từ ao lắng. Đó là “giống tảo khuê” sạch nhất người nuôi có, đã quen với nguồn nước của trại. Không nên lấy nước từ ao của trại khác để làm giống tảo, vì cùng với tảo có thể mang theo cả mầm bệnh.
Khi tảo khuê tàn đột ngột sau mưa hoặc nắng gắt
Ưu tiên lúc này là giữ oxy, không phải gây màu ngay. Hãy chạy quạt và sục khí liên tục từ chập tối đến sáng, giảm khoảng 20-30% lượng thức ăn trong 1-2 ngày và đánh vi sinh dọn xác tảo vào ban đêm. Chỉ khi nước đã ổn định và tôm ăn lại bình thường mới bắt đầu gây lại tảo khuê. Sau mưa, cần kiểm tra lại kiềm và pH nuôi tôm cá trước khi gây màu. Nước mất kiềm thì tảo khuê không thể giữ được lâu.
Khi tảo lam hoặc tảo giáp đã lấn chỗ tảo khuê
Đã đến bước này thì không thể gây tảo khuê “đè” lên tảo lạ. Cần giảm tảo lạ trước để giải phóng dinh dưỡng và ánh sáng. Cách giảm tảo nên chọn là cạnh tranh dinh dưỡng bằng vi sinh, vì hóa chất cắt tảo làm sạch cả ao, sau đó tảo nào lên trước sẽ thắng, mà thường là tảo lam.

Vì vậy Bio 102 rất hợp với bước này. Sản phẩm chứa Bacillus subtilis và Bacillus licheniformis mật độ cao, có tác dụng giảm tảo lam, tảo giáp và giữ màu nước ở dải tảo khuê. Khi tảo lạ đã dày, đánh 1 gói cho 1.600-2.000 m³ nước, liên tục 2 đêm, vào khoảng 22-24 giờ khi tảo ngừng quang hợp. Khi màu nước bắt đầu ngả về nâu nhạt, chuyển sang gây lại tảo khuê như hướng dẫn ở phần trên.
Lớp nhớt tảo khuê đáy bám trên bạt có đáng lo?
Không phải tảo khuê nào cũng trôi nổi trong nước. Các chi Navicula, Nitzschia, Amphora thích bám lên bạt, sàn ăn và gờ ao, tạo thành lớp màng nâu mỏng, sờ trơn tay. Người nuôi thường gọi đó là “nhớt bạt” và tìm cách chà sạch ngay.
Thực tế, lớp tảo khuê đáy mỏng, màu nâu tươi là nguồn thức ăn tôm gặm thường xuyên, nhất là giai đoạn mới thả. Lớp này chỉ đáng lo khi:
- Dày lên, bong ra thành mảng nổi trên mặt nước rồi tụ vào góc ao.
- Chuyển từ nâu tươi sang nâu đen, có mùi thối khi chà tay.
- Nằm ở vùng đáy ao không có dòng chảy, nơi chất thải gom lại.
Ở những vị trí đó, xác tảo đáy phân hủy yếm khí và trở thành chỗ ẩn nấp cho vi khuẩn. Nên phân biệt lớp tảo khuê đáy (nâu, trơn, mịn) với tảo sợi (sợi xanh, cầm lên thấy kéo dài) và màng nhớt vi khuẩn (trắng đục, nhầy, có mùi). Cách xử lý ba loại này hoàn toàn khác nhau.
Ao cá, ao nước ngọt và ao ốc hương có cần tảo khuê không?
Với ao cá và ao tôm nước ngọt, tảo khuê vẫn có mặt nhưng hiếm khi chiếm ưu thế. Màu nước tốt ở đây là xanh nõn chuối của tảo lục, không nên cố gây màu trà. Với ốc hương, tảo khuê như Chaetoceros là thức ăn quen thuộc trong khâu ương giống.
Còn ở giai đoạn nuôi thương phẩm, việc quản lý chủ yếu xoay quanh chất lượng đáy và nguồn nước biển sạch. Ao tôm sú, tôm thẻ nuôi ở độ mặn trung bình và cao vẫn là nơi tảo khuê phát huy giá trị rõ nhất.
Câu hỏi thường gặp về tảo khuê
Tảo khuê có độc với tôm không?
Trong điều kiện ao nuôi tôm thông thường, tảo khuê gần như không gây độc. Rủi ro đến từ mật độ quá dày (độ trong dưới 25 cm) làm thiếu oxy về đêm và từ việc tảo tàn đồng loạt làm bẩn đáy, không phải từ độc tố.
Có thể nuôi tảo khuê riêng rồi cấy vào ao không?
Có. Một số trại giống và trại công nghệ cao tự nuôi sinh khối Chaetoceros hoặc Thalassiosira để cấy. Tuy nhiên cách này đòi hỏi nguồn giống tảo thuần và thiết bị riêng. Với hộ nuôi, giữ một ao lắng có màu trà ổn định để cấp bổ sung là cách thực tế hơn.
Kết luận
Tảo khuê là màu nước đáng giữ nhất trong ao tôm nước lợ, nhưng cũng là màu dễ mất nhất vì phụ thuộc vào silic. Người nuôi giữ được tảo khuê đến cuối vụ khi kiểm soát được tỷ lệ đạm/silic, giữ nước luôn có dòng chảy và nhận ra sớm lúc màu trà bắt đầu nhạt, thay vì đợi nước xanh đậm mới xử lý.
Nếu ao đang khó lên màu trà, màu nước đổi bất thường hoặc người nuôi không chắc nước nâu là tảo khuê hay tảo giáp, hãy gọi Hotline 0982 266 640 hoặc gửi ảnh ly nước, ảnh soi mẫu, độ mặn, pH và độ trong cho kỹ sư Green Bio. Chúng tôi sẽ đọc mẫu giúp, tính liều theo thể tích thực tế của ao và theo dõi cùng người nuôi trong những ngày tiếp theo. Khi cần sản phẩm, người nuôi có thể đặt Bio Clear để gây và giữ màu nước, Bio 102 khi tảo lạ lấn, hoặc xem thêm nhóm men vi sinh nuôi tôm.
