Ký sinh trùng trên cá tra là các sinh vật bám trên mang, da hoặc sống trong nội tạng của cá tra. Hay gặp nhất là trùng bánh xe, sán lá đơn chủ, trùng quả dưa và bào tử trùng. Chúng gây hại nặng nhất ở giai đoạn cá bột đến cá giống. Ở ao ương, trùng có thể làm cá hao rải rác rồi chết dồn chỉ sau vài ngày. Với cá thịt, trùng làm rách mang, tróc nhớt và mở đường cho vi khuẩn gan thận mủ. Trong bài viết này, Green Bio sẽ hướng dẫn bà con xử lý bệnh ký sinh trùng trên cá tra từng mốc nuôi.

Ký sinh trùng trên cá tra gồm những nhóm nào?
Người nuôi hay nói chung chung là “cá bị trùng”, nhưng trùng trên cá tra có ít nhất năm nhóm. Mỗi nhóm bám ở vị trí khác nhau, gây hại theo cách khác nhau và cần cách trị khác nhau. Biết cá đang nhiễm nhóm nào là bước quyết định nên tạt gì, tạt mấy lần và có cần trộn thuốc hay không.
Bài này chỉ nói những điểm riêng của cá tra. Phần hình thái và vòng đời của từng loại trùng, người nuôi có thể xem trong bài tổng hợp các loại ký sinh trùng trên cá. Nếu cần đặt trùng cạnh các bệnh vi khuẩn và nấm để so sánh, bài các bệnh thường gặp trên cá tra có bức tranh đầy đủ hơn.
| Nhóm ký sinh trùng | Vị trí bám trên cá tra | Giai đoạn hay gặp | Dấu hiệu dễ thấy tại ao |
|---|---|---|---|
| Trùng đơn bào ngoài da (Trichodina, Cryptobia, Apiosoma, Epistylis) | Da, vây, mang | Cá bột, cá hương | Cá tróc nhớt, da bạc mờ, bơi lờ đờ sát mặt nước |
| Trùng quả dưa (Ichthyophthirius multifiliis) | Da, mang | Cá hương, cá giống, nhất là khi nước lạnh | Đốm trắng li ti như hạt tấm trên lưng sẫm màu |
| Sán lá đơn chủ (Dactylogyrus, Gyrodactylus) | Mang (và da với Gyrodactylus) | Cá giống, cá thịt cỡ nhỏ | Nắp mang hé mở, cá đớp khí dày, mang sưng nhạt màu |
| Bào tử trùng (Myxobolus, Henneguya, vi bào tử trùng) | Mang, cơ, thận, mạc treo | Cá giống đến cá thịt | Nang trắng đục 0,5-3 mm, thấy rõ khi mổ hoặc phi lê |
| Giáp xác ký sinh (copepod) | Da, gốc vây, xoang miệng | Cá giống | Vết đỏ nhỏ tại chỗ bám, cá cọ mình vào thành ao |
| Nội ký sinh (sán lá ruột, ấu trùng giun tròn) | Ruột, dạ dày, xoang bụng | Cá thịt, cá thả từ nguồn giống tự nhiên | Cá gầy, bụng lép, ăn kém dù nước tốt |
Giai đoạn nào cá tra nhiễm ký sinh trùng nặng nhất?
Ở ao ương cá tra, trùng gần như lúc nào cũng có. Câu hỏi thực tế là tỷ lệ nhiễm cao đến đâu và cá đang ở mốc nào. Khảo sát của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hằng Trường Đại học Cần Thơ trên 857 mẫu cá từ 20 ao ương ghi nhận 9 giống ký sinh trùng. Mùa khô, cá giống nhiễm 73-85,7% và cá hương có ao nhiễm tới 100%. Cũng theo nghiên cứu này, tỷ lệ nhiễm mùa khô thường cao hơn mùa mưa. Nói cách khác, ao ương cá tra không có trùng là chuyện hiếm. Việc của người nuôi là giữ mật độ trùng dưới ngưỡng gây chết.
Cá tra bột
Cá tra bột mới thả chưa có lớp nhớt dày. Mang cũng còn nhỏ, chỉ cần một lớp trùng bánh xe hay trùng roi phủ lên là cá đã ngạt. Ở mốc này cá thường chết lặng lẽ. Người nuôi chỉ thấy cá ăn yếu, rồi một sáng vớt lên cả mớ cá chết bám ven bờ. Cách gây hại của trùng bánh xe đã có trong bài trùng bánh xe trên cá. Với cá tra bột, cần nhớ là cá chịu thuốc rất kém, liều tạt cho ao cá giống có thể quá sức cá bột.

Cá tra hương và cá giống
Từ khi cá được khoảng 2-3 tuần tuổi đến lúc xuất giống, sán lá đơn chủ và trùng quả dưa thay chỗ trùng bánh xe để thành mối lo chính. Các trùng bám cố định như Epistylis và Apiosoma (cùng nhóm với trùng loa kèn) cũng hay gặp trên da và mang cá hương. Chúng bùng mạnh ở ao nhiều mùn hữu cơ. Mốc nguy hiểm nhất là 3-5 ngày sau san thưa hoặc vận chuyển. Lúc đó cá vừa mất nhớt vừa bị stress, nên trùng sẵn có trong ao sinh sôi rất nhanh.

Cá tra thịt
Cá tra thịt to con, mang lớn nên hiếm khi chết hàng loạt chỉ vì trùng ngoài da. Thiệt hại ở mốc này là kiểu âm thầm. Sán mang làm cá ăn kém và tăng hệ số thức ăn. Nội ký sinh làm cá gầy. Nang bào tử trùng trong cơ làm phi lê bị nhà máy trừ giá hoặc trả hàng. Phần nang trắng trong cơ thịt đã được phân tích kỹ trong bài bệnh gạo trên cá tra, người nuôi nên đọc trước khi bán cá.

Vì sao trùng mang trên cá tra hay bị phát hiện muộn?
Đây là điểm khiến nhiều ao cá tra trở tay không kịp. Cá tra có thể thở thêm bằng cách ngoi lên đớp không khí (hô hấp phụ qua bóng hơi). Vì thế, ngay cả khi mang đã bị sán hoặc trùng phá một phần, cá vẫn sống được nhờ đớp khí trên mặt nước. Người nuôi thấy cá ngoi đớp thì nghĩ “cá tra vốn vậy” và cho qua.
Kỹ sư Green Bio phân biệt bằng nhịp đớp khí. Cá khỏe đớp khí thưa, rải đều khắp ao, thường tăng vào lúc sáng sớm khi oxy thấp rồi giảm dần khi nắng lên. Cá bị trùng mang thì đến 9-10 giờ sáng, khi oxy trong ao đã đủ, vẫn đớp liên tục. Những con này hay tách khỏi đàn, bơi chậm ở cuối hướng gió hoặc góc ao cạn. Vớt vài con lên lật nắp mang sẽ thấy mang nhạt màu, rìa tơ mang dày nhớt hoặc lấm tấm trắng. Mang như vậy là trùng đã phá được vài ngày.
Khi trùng và sán làm hỏng mang kéo dài, cá tra rất dễ chuyển sang bệnh trắng gan trắng mang. Ở giai đoạn đó, trị trùng thôi không còn đủ. Vì vậy, khi ao cá tra đớp khí bất thường vào giữa buổi sáng, nên soi mang ngay, đừng đợi cá bỏ ăn.
Ký sinh trùng mở đường cho gan thận mủ và xuất huyết như thế nào?
Nhiều ao cá tra được chẩn đoán gan thận mủ, nhưng hỏi lại thì trước đó một tuần cá đã có trùng hoặc sán mà chưa xử lý. Hai chuyện này thường đi liền nhau. Trùng làm rách biểu mô mang và da, tạo ra vô số vết thương nhỏ. Edwardsiella ictaluri, tác nhân gây gan thận mủ, chui vào máu qua chính những vết thương đó.
Trên cá nheo Mỹ, một loài cá da trơn họ hàng với cá tra, các nhà nghiên cứu Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) còn ghi nhận trùng quả dưa mang theo vi khuẩn E. ictaluri bám trên bề mặt. Ấu trùng của nó có thể truyền vi khuẩn sang cá khỏe chỉ sau vài giờ. Kết quả này chưa được làm lại trên cá tra. Tuy vậy, nó khớp với điều chúng tôi hay thấy ở ao: đợt trùng quả dưa cuối năm thường kéo theo một đợt cá có đốm trắng trong gan thận.
Vì vậy, sau khi trị ký sinh trùng, cần theo dõi ao thêm 5-7 ngày. Nếu cá vẫn chết rải rác, bụng hơi chướng, mổ ra thấy đốm trắng trên gan, thận hoặc lá lách, thì đó không còn là bệnh trùng. Lúc này cần chuyển sang điều trị bệnh gan thận mủ trên cá tra. Đặc điểm của tác nhân này có trong bài về vi khuẩn Edwardsiella. Nếu cá xuất huyết vây, hậu môn và da đỏ loang, cần nghĩ tới Aeromonas và đối chiếu với bài bệnh xuất huyết trên cá tra.
Cách các kỹ sư thường kiểm tra ký sinh trùng cá tra
Soi sai mẫu thì kết quả “không thấy trùng” chẳng có nghĩa gì. Với cá tra, chúng tôi lấy mẫu như sau:
- Chọn cá: vớt 5-7 con đang yếu, bơi tách đàn hoặc đớp khí liên tục. Không dùng cá đã chết lâu vì trùng đơn bào rời khỏi xác rất nhanh.
- Cạo nhớt: cạo nhẹ ở vùng lưng sau vây lưng và gốc vây ngực. Đây là chỗ trùng bánh xe và trùng quả dưa tập trung dày nhất trên cá tra.
- Cắt mang: cắt một đoạn tơ mang ở cung mang thứ hai. Cung này ít bị dập khi cá giãy, nên nhìn rõ sán đơn chủ bám giữa các lá mang.
- Soi ngay: đặt mẫu lên lam kính, nhỏ một giọt nước ao và soi trong vòng 15-20 phút.
- Mổ khám 1-2 con: xem ruột có sán hay giun không, thận và mạc treo có nang trắng không.
Nếu không có kính hiển vi, người nuôi vẫn có thể chụp rõ mang (lật nắp mang dưới ánh sáng tự nhiên) và lưng cá, rồi quay một đoạn video ngắn cảnh cá bơi trong ao lúc 9-10 giờ sáng. Gửi kèm số đo pH, độ kiềm và nhiệt độ nước. Kỹ sư Green Bio có thể khoanh vùng nhóm trùng qua ảnh, rồi hướng dẫn soi lại hoặc gửi mẫu đến phòng xét nghiệm khi cần.
Hai lỗi đọc mẫu hay gặp ở ao cá tra. Lỗi thứ nhất là thấy vài con trùng bánh xe là tạt thuốc ngay, dù cá vẫn ăn tốt và mang còn hồng. Trùng có mặt ở mật độ thấp là chuyện bình thường của ao ương cá tra. Lỗi thứ hai là thấy sán trên mang nhưng không để ý sán có trứng hay không. Điều này ảnh hưởng tới lịch nhắc thuốc, phần dưới sẽ nói rõ.
Trị ký sinh trùng trên cá tra theo từng nhóm tác nhân
Không có một loại thuốc diệt được mọi nhóm trùng trên cá tra. Trị đúng nghĩa là chọn hoạt chất theo nhóm trùng, liều theo cỡ cá và nhịp tạt theo vòng đời trùng. Bảng dưới tóm tắt các hướng xử lý chúng tôi thấy hiệu quả và dễ làm ở ao cá tra.
| Nhóm trùng | Hướng xử lý chính | Nhịp lặp lại | Lưu ý riêng với cá tra |
|---|---|---|---|
| Trùng bánh xe, Cryptobia, trùng bám cố định | Formalin tạt ao hoặc đồng sunfat (CuSO4) | 1-2 lần, cách 2-3 ngày | Cá bột chịu thuốc kém, dùng liều thấp và tạt thử một góc ao trước |
| Trùng quả dưa | Formalin liều thấp tạt nhiều lần, giữ ao không để lạnh sâu | 3 lần, cách 2 ngày | Thuốc chỉ diệt được ấu trùng bơi tự do, nên tạt một lần là không đủ |
| Sán lá đơn chủ | Formalin tạt ao | Nhắc lại sau 3-5 ngày | Dactylogyrus đẻ trứng và trứng không chết vì thuốc, phải tạt thêm khi trứng nở |
| Giáp xác ký sinh | Hoạt chất trị giáp xác có đăng ký lưu hành, theo hướng dẫn kỹ sư | Theo vòng đời ấu trùng | Không tự ý dùng thuốc trừ sâu nông nghiệp |
| Bào tử trùng | Chưa có thuốc đặc trị. Giảm nguồn bệnh, loại cá nặng, cải tạo ao | Không áp dụng | Quyết định bán sớm hay nuôi tiếp tùy mật độ nang |
| Nội ký sinh (sán, giun) | Thuốc trộn ăn có đăng ký lưu hành cho thủy sản | Theo hướng dẫn kỹ sư | Cá phải còn ăn thì mới trộn thuốc được |
Ao ương thì xử lý bằng liều thấp và đúng nhịp
Với ao ương cá tra, formalin vẫn là lựa chọn thông dụng nhất vì diệt được cả trùng đơn bào lẫn sán mang. Liều tạt ao người nuôi miền Tây hay dùng là 15-25 ml/m³ nước. Cá bột dùng mức thấp, cá giống khỏe dùng mức cao hơn. Với trùng quả dưa, nên dùng liều thấp và tạt 3 lần, mỗi lần cách 2 ngày, vì thuốc chỉ trúng ấu trùng khi chúng rời khỏi cá. Ở nhiệt độ nước miền Tây, mỗi vòng đời của trùng quả dưa chỉ kéo dài khoảng 3-5 ngày, nên chỉ cần lỡ một nhịp là trùng quay lại. Trước khi đánh thuốc, người nuôi nên đọc lại cách nhận biết trùng quả dưa để chắc chắn đốm trắng trên cá là trùng chứ không phải nấm.
Điều quan trọng nhất khi tạt formalin là oxy. Theo cách tính liều của Đại học Bang Mississippi, cứ 5 mg/L formalin sẽ làm giảm khoảng 1 mg/L oxy hòa tan trong nước. Formalin còn giết một phần tảo, xác tảo phân hủy lại tiếp tục tiêu thụ oxy. Ao ương cá tra thường dày tảo, nên tạt 25 ml/m³ vào chiều tối mà không chạy quạt thì sáng hôm sau ao rất dễ sụp oxy. Hãy tạt vào sáng có nắng, chạy quạt hoặc sục khí suốt 24 giờ sau khi tạt và đo oxy hòa tan trong ao vào rạng sáng hôm sau.
Đồng sunfat (CuSO4) rẻ hơn và diệt trùng bánh xe tốt, thường dùng ở mức 0,5-0,7 g/m³. Độc tính của đồng thay đổi mạnh theo độ kiềm của nước. Ao phèn nhẹ, kiềm thấp mà dùng đúng liều trên vẫn có thể làm chết cá tra bột. Nên đo kiềm trước, cách điều chỉnh liều đã có trong bài đồng sunfat trong nuôi trồng thủy sản.
Với cá giống trước khi chuyển ao, tắm nước muối 2-3% trong 5-10 phút giúp bong bớt trùng bám ngoài da. Cách này không thay được việc xử lý ao, vì trùng quả dưa nằm sâu dưới da và trứng sán trong ao không bị ảnh hưởng. Trong lúc tắm, cần theo dõi cá liên tục và vớt ra ngay khi cá lật nghiêng.
Ao cá thịt cần soi kỹ trước khi tạt toàn ao
Ao cá tra thịt rộng vài nghìn đến vài chục nghìn mét khối. Tạt formalin toàn ao vừa tốn tiền vừa có nguy cơ sụp oxy với mật độ cá cao. Ở ao thịt, chúng tôi chỉ đề nghị tạt khi soi thấy sán hoặc trùng dày trên mang của đa số mẫu, đồng thời cá đớp khí bất thường vào giữa buổi sáng. Nếu chỉ thấy rải rác, nên thay nước, hút bớt bùn đáy ở chỗ cá tập trung và soi lại sau 3 ngày.
Với sán lá đơn chủ trên cá thịt, nhịp nhắc thuốc quan trọng hơn liều. Gyrodactylus đẻ con nên tạt một lần là giảm rõ. Dactylogyrus thì đẻ trứng, trứng nằm trong nước và bùn đáy, không chết vì thuốc. Ở nhiệt độ 28-30°C, trứng nở sau vài ngày, nên phải tạt lần hai sau 3-5 ngày. Bỏ lần tạt thứ hai là ao gần như chắc chắn bị lại sau 1-2 tuần. Phần vòng đời và cách phân biệt hai giống sán có trong bài sán lá đơn chủ.
Giáp xác ký sinh ít gặp trên cá tra hơn cá chép hay cá trắm, nhưng vẫn có ở ao ương nhận nước sông trực tiếp. Hình dạng và cách trị đã có trong bài trùng mỏ neo. Với cá tra, không dùng các thuốc trừ sâu nông nghiệp mà một số người nuôi tự pha để diệt giáp xác. Cá da trơn không có vảy che, nên da hấp thu hóa chất nhanh hơn cá có vảy.
Chặn vi khuẩn tràn vào vết thương sau khi diệt ký sinh trùng
Trùng chết rồi nhưng mang và da cá vẫn đầy vết rách. Lúc này ao cá tra cần giảm mật độ vi khuẩn trong nước để vết thương kịp lành. Hoạt chất phù hợp là nhóm sát trùng phổ rộng, diệt được Aeromonas, Edwardsiella và nấm, lại phân hủy được trong ao. Phối hợp Glutaraldehyde với Benzalkonium chloride (BKC) đáp ứng được yêu cầu này: Glutaraldehyde phá vách tế bào vi khuẩn và nấm, còn BKC làm vỡ màng tế bào.

Ở Green Bio, chúng tôi dùng Vua Diệt Khuẩn cho bước này. Mỗi lít chứa tối thiểu 300 g Glutaraldehyde và 80 g BKC. Khi cá có dấu hiệu bệnh, tạt 1 lít cho 2.000 m³ nước vào lúc trời nắng, có chạy quạt. Nên đánh sau lần tạt formalin cuối cùng ít nhất 1 ngày để ao không phải chịu hai đợt sụt oxy liền nhau. Với cá tra bột và cá hương nhỏ, kỹ sư sẽ điều chỉnh liều theo thể tích ao thực tế để tránh sốc. Sau khi tạt khoảng 1-2 ngày, bổ sung vi sinh để dựng lại nền nước. Thời gian ngưng sử dụng trước thu hoạch là 3 ngày.
Khi trùng đã kéo theo gan thận mủ
Khi mổ khám thấy đốm trắng trên gan, thận, lá lách và cá vẫn chết rải rác dù đã sạch trùng, cần dùng kháng sinh trộn ăn. Florfenicol là hoạt chất được dùng phổ biến cho Edwardsiella ictaluri trên cá tra, nằm trong danh mục được phép sử dụng. Cơ chế và nguyên tắc dùng của nó có trong bài kháng sinh florfenicol.

Bactomar của Green Bio chứa 200 g Florfenicol/lít, chuyên dùng cho cá tra và cá basa. Liều sử dụng là 1 ml cho 20 kg cá mỗi ngày, cho ăn liên tục từ 5–7 ngày. Ví dụ, ao còn khoảng 30 tấn cá thì cần 1.500 ml Bactomar/ngày. Bà con pha thuốc với nước rồi trộn đều vào khoảng một nửa lượng thức ăn hằng ngày, vì cá đang bệnh thường ăn ít hơn bình thường.
Lưu ý: Ngưng sử dụng thuốc 12 ngày trước khi thu hoạch. Thuốc trộn vào thức ăn chỉ có tác dụng khi cá còn ăn. Nếu cá bị trùng mang nặng, khiến hơn một nửa đàn bỏ ăn, bà con cần xử lý trùng mang và sát trùng nước trước. Đợi cá bắt mồi trở lại rồi mới tiến hành trộn thuốc để đạt hiệu quả tốt hơn.
Những hóa chất cấm cần tránh khi trị trùng cho cá tra
Cá tra chủ yếu đi xuất khẩu, nên chỉ cần một mẫu kiểm tra có dư lượng chất cấm là cả lô hàng có thể bị trả về. Khi trùng bùng mạnh, một số người nuôi vẫn tìm đến xanh malachite vì nó diệt trùng quả dưa rất mạnh. Một số khác dùng Trifluralin để cải tạo ao. Cả hai hoạt chất này, cùng với tím tinh thể, đều đã bị cấm trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam. Xanh malachite chuyển thành leucomalachite green tích tụ trong cơ cá và tồn lưu rất lâu. Đây là chất mà các thị trường nhập khẩu kiểm tra thường xuyên.
Với nội ký sinh và giáp xác, chỉ dùng chế phẩm có số đăng ký lưu hành cho thủy sản và tuân thủ thời gian ngưng thuốc. Không dùng thuốc tẩy giun dành cho gia súc hoặc thuốc trừ sâu nông nghiệp thay cho thuốc thủy sản.
Ngăn ngừa ký sinh trùng khi san thưa và chuyển ao
Với cá tra, phòng trùng hiệu quả nhất là chặn ở các mốc chuyển giai đoạn, nơi trùng hay bùng, chứ không phải tạt thuốc định kỳ cả vụ.
- Trước khi thả cá bột: sên vét bùn, phơi đáy và lọc nước cấp qua lưới mịn. Bào tử trùng và trứng sán sống được lâu trong bùn đáy ao cũ.
- Trước san thưa 1-2 ngày: soi mang và nhớt. Nếu trùng dày, xử lý xong mới san, vì san thưa làm cá mất nhớt và trùng sẽ bùng ngay sau đó. Nếu cá tra giống bị bạc da sau san thưa, phân biệt nguyên nhân theo bài trắng da trên cá tra.
- Khi nhận cá giống về ao thịt: yêu cầu bên bán cho soi mẫu hoặc tự soi 5-7 con. Tắm muối trước khi thả. Không thả cá giống có nang trắng trên mang.
- Mùa nước lạnh cuối năm: khi nhiệt độ nước xuống dưới khoảng 26°C, tăng tần suất soi mang lên 2 lần/tuần ở ao ương, vì trùng quả dưa phát triển mạnh nhất ở khoảng nhiệt độ này.
- Trong vụ nuôi thịt: không để bùn đáy dày ở góc ao cuối hướng gió, nơi cá yếu tụ lại và trứng sán tích lại nhiều nhất.
Cá tra thịt có cần tẩy sán, giun định kỳ không?
Không cần tẩy theo lịch cố định. Chỉ trị khi mổ khám thấy sán hoặc giun trong ruột với số lượng nhiều, kèm cá gầy và hệ số thức ăn tăng mà không có nguyên nhân khác. Tẩy định kỳ khi cá không nhiễm vừa tốn tiền, vừa thêm một đợt thuốc phải tính thời gian ngưng trước khi bán.
Kết luận
Ký sinh trùng trên cá tra gây chết nhanh nhất ở giai đoạn cá bột đến cá giống. Ở cá thịt, chúng gây hại âm thầm hơn: làm cá chậm lớn, làm giảm giá phi lê và mở đường cho gan thận mủ. Người nuôi cần nhận ra trùng mang sớm qua nhịp đớp khí bất thường, soi đúng vị trí, trị theo vòng đời của từng nhóm trùng và giữ oxy khi tạt thuốc. Làm vậy sẽ giữ được đàn cá với chi phí thấp nhất.
Nếu ao cá tra đang đớp khí bất thường hay hao rải rác sau san thưa, hãy gọi Hotline 0982 266 640. Người nuôi cũng có thể gửi ảnh mang, ảnh lưng cá, video cá bơi cùng các chỉ số pH, độ kiềm, nhiệt độ nước. Kỹ sư Green Bio sẽ đọc mẫu, tính liều theo thể tích ao thực tế và theo dõi ao trong những ngày sau điều trị, hoàn toàn miễn phí. Khi đã xác định đúng hướng xử lý, người nuôi có thể đặt Vua Diệt Khuẩn, Bactomar hoặc xem thêm thuốc thủy sản cho cá của Green Bio.
