Tảo lục (Chlorophyta) là nhóm vi tảo có diệp lục làm nước ao xanh nõn chuối, phát triển mạnh ở ao nước ngọt và nước lợ nhạt. Chi thường gặp nhất là tảo Chlorella. Ở mật độ vừa phải, tảo lục tạo oxy, hút bớt đạm amoni và giữ pH ổn định. Nhưng khi quá dày, ao xanh vẫn có thể tụt oxy lúc rạng sáng, pH buổi chiều vọt lên và mất màu chỉ sau một đêm mưa. Sau đây, Green Bio sẽ giúp người nuôi đọc đúng mật độ tảo lục trong ao nuôi tôm, ao cá và biết xử lý khi tảo quá dày hoặc đang tàn.

Tảo lục là gì? Vì sao ao nước ngọt, nước lợ nhạt dễ lên tảo lục?
Nhiều người nuôi gọi chung mọi loại nước xanh là “nước tảo”. Thật ra màu xanh ấy có thể do vài nhóm tảo rất khác nhau tạo ra, và tảo lục là nhóm lành tính nhất trong số đó. Tảo lục là thực vật phù du thật sự, có nhân và lục lạp giống cây xanh. Tảo lam thì khác: về bản chất đó là vi khuẩn biết quang hợp. Phần lớn tảo lục trong ao nuôi là tế bào đơn lẻ hoặc tập đoàn vài tế bào, nhỏ cỡ vài micromet nên mắt thường không nhìn thấy. Chúng lơ lửng đều trong cột nước chứ không nổi thành váng.

Trong ao, hai chi hay gặp nhất là:
- Chlorella: tế bào hình cầu, không có roi, sinh sản rất nhanh bằng cách chia một tế bào mẹ thành nhiều tế bào con. Đây là chi tạo ra màu xanh nõn chuối đều màu mà người nuôi cá rất thích.
- Scenedesmus: tập đoàn 4 hoặc 8 tế bào xếp thành hàng, hay đi cùng Chlorella trong ao giàu dinh dưỡng.
Tảo lục chiếm ưu thế khi nước có độ mặn thấp (dưới khoảng 10‰), nhiều đạm ở dạng amoni và nắng đều. Đó là lý do ao cá nước ngọt, ao tôm thẻ nuôi độ mặn thấp và ao lắng có thả cá rô phi thường xanh màu tảo lục. Bài tổng quan về tảo trong ao nuôi tôm đã so sánh nhóm tảo này với tảo khuê, tảo lam, tảo giáp và tảo mắt. Ở bài này, chúng tôi chỉ đi sâu vào tảo lục.
Một điểm cần nói rõ: khi tìm “tảo Chlorella” trên mạng, phần lớn kết quả là viên uống bổ sung cho người. Đó là sinh khối Chlorella nuôi công nghiệp, sấy khô và nén viên. Tảo Chlorella trong ao nuôi là quần thể tự nhiên sống trong nước, nên cách quản lý hoàn toàn khác.
Tảo lục làm được gì cho ao nuôi, và điều gì nó không làm được?
Ban ngày tảo lục quang hợp, bơm oxy vào tầng nước mặt. Chúng hút amoni rất nhanh, nhanh hơn nhiều so với vi khuẩn nitrat hóa trong chu trình nitơ trong ao. Vì vậy ao có màu tảo lục ổn định thường ít khi bị khí độc NH3 vọt lên đột ngột. Lớp tảo lơ lửng còn che nắng xuống đáy, hạn chế rong đáy và tảo sợi mọc.

Có ba điều tảo lục không làm được, nhưng nhiều người nuôi vẫn tin là được:
- Tảo lục không tự chặn được Vibrio. Nhiều tài liệu phổ thông nói Chlorella tiết chất ức chế vi khuẩn, rồi suy ra cứ nước xanh tảo lục là tôm an toàn. Một thí nghiệm của SEAFDEC/AQD về mô hình nuôi tôm kết hợp cá mô phỏng ao nuôi tôm và cho kết quả ngược lại: chỉ riêng Chlorella thì không kiểm soát được vi khuẩn phát sáng, còn cá rô phi mới là yếu tố chính. Mô hình “nước xanh” có tác dụng là nhờ cả hệ cá và tảo, không phải nhờ riêng tảo lục. Ao tôm đã có dấu hiệu bệnh phát sáng trên tôm thì vẫn phải xử lý khuẩn đúng cách, không thể trông vào màu nước.
- Tảo lục không phải thức ăn tốt nhất cho tôm nước lợ. Vách tế bào Chlorella dày, khó tiêu với tôm nhỏ và động vật phù du. Tảo lục cũng nghèo các axit béo không no mạch dài hơn tảo khuê. Với ao tôm thẻ nước lợ, tảo khuê vẫn là nhóm đáng giữ hơn.
- Tảo lục không giữ được pH khi quá dày. Ở mật độ vừa phải, tảo lục giúp pH êm. Khi tảo quá đặc, chính chúng làm pH dao động mạnh nhất (xem phần dưới).
Tóm lại, tảo lục là “nền xanh” an toàn cho ao, nhưng không phải lá chắn chống bệnh.
Tảo lục trong ao nuôi tôm là tín hiệu tốt hay lời nhắc về độ mặn và đạm?
Câu trả lời tùy vào việc ao đang nuôi ở độ mặn nào. Với ao tôm thẻ nuôi độ mặn thấp hoặc ao đã thuần nước ngọt, màu xanh nõn chuối của tảo lục là màu nên giữ. Bài màu nước ao nuôi tôm đã nói kỹ phần gây màu ban đầu.

Với ao nước lợ trước đó vẫn giữ màu trà của tảo khuê, việc nước chuyển dần sang xanh lá lại là tín hiệu nên đọc kỹ. Chúng tôi hay gặp tình huống này sau vài trận mưa liên tiếp: độ mặn tầng mặt tụt, ao đang dư đạm từ thức ăn, và tảo lục nhanh chóng lấn chỗ tảo khuê. Màu xanh nhìn vẫn đẹp, nhưng ao đang báo hai điều: độ mặn nuôi tôm đã giảm và ao đang thừa dinh dưỡng. Nếu đạm và lân tiếp tục tích tụ, tảo lục thường chỉ là chặng trung gian trước khi tảo lam chiếm ao.
Ở ao đất nuôi tôm thẻ thâm canh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tảo lục không hề hiếm. Một khảo sát của Đại học Cần Thơ tại Cái Nước, Cà Mau cho thấy: tảo khuê có nhiều loài nhất, nhưng về mật độ thì tảo lục lại chiếm ưu thế so với các ngành tảo khác. Nói cách khác, ao tôm đất có tảo lục là chuyện bình thường. Điều người nuôi cần theo dõi là tảo lục đang ở mật độ nào, không chỉ là có hay không.
Với ao nước lợ đang chuyển sang tảo lục, nên làm theo thứ tự:
- Đo độ mặn tầng mặt và tầng đáy, vì sau mưa hai tầng thường chênh nhau.
- Giảm 10-20% lượng thức ăn trong 2-3 ngày để cắt nguồn đạm dư.
- Bổ sung khoáng, giữ độ kiềm ổn định để tảo khuê có điều kiện quay lại. Bài kiểm soát độ kiềm mùa mưa có hướng dẫn chi tiết.
- Không vội cắt tảo khi tôm vẫn ăn tốt và pH chưa dao động mạnh.
Khi nào tảo lục trở thành vấn đề của ao?
Tảo lục hiếm khi gây hại vì độc tố. Vấn đề của nó nằm ở mật độ: quá dày, hoặc dày rồi tàn cùng lúc. Bảng dưới đây giúp người nuôi đọc trạng thái tảo lục ngay tại bờ ao:
| Tiêu chí | Tảo lục vừa đủ | Tảo lục quá dày | Tảo lục đang tàn |
|---|---|---|---|
| Màu nước | Xanh nõn chuối, trong và đều | Xanh lá đậm, đặc, nhìn như nước rau má | Xanh nhạt dần sang vàng, xám đục |
| Độ trong (đĩa Secchi) | 30-45 cm | Dưới 25 cm | Tăng nhanh bất thường trong 1-2 ngày |
| pH sáng và chiều | 7,5-8,5, chênh không quá 0,5 | Chiều trên 9, chênh trên 0,5 | pH ngày giảm, ít còn chênh lệch |
| Mặt nước | Không váng, không bọt | Ít váng, nắng gắt có lớp xanh mỏng | Bọt trắng lâu tan, có mùi hôi |
| Tôm, cá | Ăn bình thường | Nổi đầu rạng sáng, ăn kém buổi sáng | Giảm ăn, tấp mé, dễ bị khí độc |
| Việc cần làm | Giữ nguyên, theo dõi | Kéo bớt mật độ | Cấp oxy, dọn xác tảo, gây lại màu |
Đọc mật độ tảo lục bằng đĩa Secchi và pH hai buổi
Màu nước nhìn bằng mắt dễ đánh lừa, nhất là khi trời âm u. Hai chỉ số đáng tin hơn là độ trong và độ chênh pH giữa sáng và chiều. Người nuôi nên đo độ trong vào khoảng 9-10 giờ sáng, cùng một vị trí, mỗi ngày một lần. Đo pH hai lần: 6 giờ sáng và 14-15 giờ chiều.
Tảo lục quá dày có một kiểu dao động pH rất đặc trưng. Buổi chiều, tảo quang hợp mạnh đến mức cạn sạch CO2 trong ao, khiến pH vọt lên. Ban đêm tảo chuyển sang hô hấp, vừa thải CO2 vừa tiêu thụ oxy, nên rạng sáng ao vừa tụt pH vừa thiếu oxy. Ngưỡng và cách hạ chi tiết có trong bài về pH trong ao nuôi tôm cá. Riêng với tảo lục, khi độ trong xuống dưới 25 cm và pH chiều vượt 9, người nuôi đừng chờ thêm nữa.
Dấu hiệu tảo lục sắp tàn
Chlorella sinh sản nhanh nên cũng tàn nhanh và tàn đồng loạt. Ba dấu hiệu chúng tôi để ý trước khi nước mất màu hẳn:
- Chiều hôm trước pH chỉ lên được một chút, thấp hơn hẳn những ngày nắng tương tự.
- Sáng ra nước có ánh vàng hoặc xám, cầm ly nước lên thấy lợn cợn chứ không xanh trong.
- Bọt trắng ở cuối hướng quạt lâu tan hơn bình thường.
Thời điểm tảo lục dễ tàn nhất là sau 2-3 ngày âm u liên tục, sau mưa lớn, hoặc khi ao đã dày tảo nhiều ngày mà không được thay nước. Xác tảo phân hủy hút oxy rất mạnh. Vì vậy đêm đầu tiên sau khi tảo tàn là lúc ao nguy hiểm nhất, cần theo sát chỉ số oxy hòa tan.
Kéo mật độ tảo lục về mức vừa đủ mà không làm sụp ao
Mục tiêu ở đây là làm thưa tảo, không phải diệt sạch. Tảo lục là tảo có lợi. Nếu xóa trắng cả ao, khoảng trống để lại thường bị tảo lam hoặc tảo mắt chiếm chỗ ngay trong vài ngày.
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, nên kéo mật độ tảo lục theo thứ tự từ nhẹ đến mạnh:
- Giảm nguồn nuôi tảo: Cắt 20-30% lượng thức ăn trong 2-3 ngày. Ngưng mọi loại phân hoặc chế phẩm gây màu có chứa đạm, lân.
- Thay nước tầng mặt: Tảo lục tập trung dày ở tầng trên vào buổi chiều. Rút 10-20% nước tầng mặt rồi cấp nước sạch đã xử lý sẽ làm thưa tảo nhanh mà không gây sốc. Ao tôm nước lợ cần cấp nước cùng độ mặn.
- Chạy quạt cả buổi trưa: Đảo nước giúp tế bào tảo không bị dồn lên tầng mặt quang hợp quá mức, nhờ đó pH buổi chiều bớt vọt.
- Dùng vi sinh cạnh tranh dinh dưỡng ban đêm: Khi tảo dày, ao gần như luôn dư đạm amoni và chất hữu cơ dưới đáy. Nhóm Bacillus subtilis và Bacillus licheniformis phân giải chất hữu cơ, hút bớt đạm mà tảo đang sống nhờ, nhờ đó mật độ tảo giảm dần thay vì sụp một lượt. Bio 102 của Green Bio chứa hai chủng này với mật độ tối thiểu 2,0 × 10⁹ CFU. Hòa 1 gói vào 30 lít nước sạch, tạt vào lúc 22-24 giờ khi quạt đang chạy:
- Duy trì: 1 gói cho 2.500-4.000 m³ nước, 10 ngày một lần.
- Khi tảo dày: 1 gói cho 1.600-2.000 m³ nước, tạt liên tục 2 đêm rồi đánh giá lại.
- Ao cá, ao ếch: liều theo hướng dẫn của kỹ sư.
- Không tạt cùng chlorine hoặc hóa chất cắt tảo. Rải vôi hoặc khoáng cách ít nhất 12 giờ.

Một lưu ý với ao tảo lục: đồng sunfat (CuSO4) diệt tảo lục rất nhanh, nhanh đến mức xác tảo chết cùng lúc làm oxy tụt sâu ngay đêm đó. Với tảo lục quá dày, hiếm khi cần dùng đến hóa chất. Nếu buộc phải dùng (ví dụ ao cá có tảo lục dày kèm váng tảo lam), chỉ đánh một phần ao, phải có độ kiềm đủ cao và nên hỏi kỹ sư tính liều theo thể tích thật của ao. Cũng không nên rải vôi nóng (CaO) vào buổi chiều để “hạ màu”, vì pH đang cao sẵn sẽ còn vọt thêm.
Làm gì trong 24-48 giờ đầu tảo lục vừa tàn?
Thấy nước chuyển vàng xám, có bọt và mùi hôi, việc đầu tiên không phải là gây màu lại. Việc đầu tiên là giữ oxy. Hãy chạy toàn bộ quạt và sục khí suốt đêm, giảm 50% lượng thức ăn hoặc ngưng một bữa sáng, và đo oxy lúc 3-5 giờ sáng nếu có máy đo.
Sang ngày thứ hai, khi ao đã qua đêm nguy hiểm, mới đến việc dọn xác tảo và gây lại màu. Thứ tự nên là:
- Xi phông hoặc gom chất lắng ở khu vực đáy giữa ao (với ao bạt, ao có hố xi phông).
- Thả vi sinh để phân giải xác tảo và giữ màu trở lại. Bio Clear phù hợp ở bước này vì vai trò chính là ổn định màu nước và phân giải hữu cơ đáy, không phải diệt tảo. Ủ 1 gói (250 g) với 3 kg mật rỉ đường và 37 lít nước trong 4 giờ. Sau đó tạt khoảng 20 lít cho 2.000-3.000 m³ nước, lúc 9-10 giờ sáng có nắng.
- Chưa vội bón lân để gây màu nhanh. Ao vừa tàn tảo vẫn còn lân tồn từ xác tảo. Bón thêm lúc này là mở đường cho tảo lam bùng phát.

Màu nước thường quay lại sau 2-4 ngày nắng. Nếu sau 5 ngày nước vẫn trong hoặc lên màu xanh đậm kèm váng, người nuôi nên gửi ảnh mẫu nước cho kỹ sư soi. Rất có thể nhóm tảo mọc lại không còn là tảo lục.
Giữ tảo lục ổn định theo từng loại ao
Ao tôm thẻ độ mặn thấp và ao tôm nước ngọt
Đây là kiểu ao tảo lục có lợi nhất. Hai điều cần giữ là độ trong 30-45 cm và độ kiềm ổn định. Tôm thẻ độ mặn thấp thường thiếu khoáng. Ao thiếu khoáng thì pH buổi chiều dễ vọt hơn khi có tảo lục dày, vì nước không đủ “đệm”. Tháng nuôi thứ hai trở đi, lượng thức ăn tăng nhanh nên tảo lục cũng dày nhanh theo. Đó là lúc cần đo độ trong mỗi ngày thay vì chỉ nhìn màu.
Ao cá rô phi, cá chép, cá tra
Cá rô phi ăn được tảo lục và tiêu hóa được một phần vi tảo. Ao rô phi vì thế thường tự giữ được màu xanh nõn chuối ổn định hơn ao cá khác. Ngược lại, ao cá tra và ao cá chép nuôi mật độ cao, cho ăn nhiều, nên tảo lục dày rất nhanh rồi chuyển sang tảo lam vào giữa vụ. Với ao cá, dấu hiệu tảo quá dày dễ thấy nhất là cá nổi đầu và gom về đầu quạt lúc 4-6 giờ sáng, rồi lặn hết khi nắng lên. Muốn tìm hiểu các bệnh hay đi kèm khi môi trường ao rô phi biến động, người nuôi có thể đọc thêm bài bệnh trên cá rô phi.
Bể nuôi lươn, ếch
Lươn và ếch nuôi trong bể xi măng hoặc bể bạt, nước nông và thay thường xuyên. Tảo lục ở đây không làm màu nước mà chủ yếu bám thành lớp xanh trên thành bể và trên giá thể. Lớp tảo bám mỏng thì vô hại. Lớp tảo bám dày, nhất là ở bể nắng chiếu trực tiếp, sẽ giữ thức ăn thừa và phân lại. Khi lớp này tàn, nước bể hôi rất nhanh. Với bể lươn, ếch, nên che lưới cắt nắng một phần và cọ thành bể định kỳ thay vì dùng hóa chất diệt tảo.
Ao ốc hương
Ao ốc hương nuôi ở độ mặn cao, tảo lục hiếm khi chiếm ưu thế. Nếu nước ao ốc hương chuyển xanh lá sau mưa kéo dài, nhiều khả năng ao đang bị ngọt hóa tầng mặt. Lúc này cần kiểm tra độ mặn trước, chưa cần quan tâm đến tảo.
Câu hỏi thường gặp về tảo lục
Có nên mua tảo Chlorella giống về cấy vào ao không?
Thường là không cần. Ao nước ngọt và nước lợ nhạt gần như luôn sẵn bào tử tảo lục. Chỉ cần đủ dinh dưỡng, độ kiềm và nắng là tảo tự lên. Cấy tảo giống chỉ có ý nghĩa với ao vừa xử lý hóa chất mạnh hoặc bể ương ấu trùng. Ngay cả trong những trường hợp đó, nếu ao dư lân thì tảo cấy vào cũng nhanh chóng bị nhóm tảo khác lấn át.
Nước xanh trong ao là tảo lục hay tảo lam?
Tảo lục cho màu xanh trong, đều khắp cột nước, không nổi váng. Tảo lam thường nổi váng như sơn, có mùi tanh và để lại vệt xanh ngọc khi khô trên mép bạt. Các phép thử chi tiết tại bờ ao có trong bài về tảo lam đã dẫn ở trên.
Kết luận
Tảo lục là nhóm tảo đáng giữ nhất ở ao nước ngọt và ao tôm độ mặn thấp. Điều quyết định là mật độ chứ không phải sự có mặt của nó. Hãy đọc tảo lục bằng độ trong và độ chênh pH thay vì chỉ nhìn màu. Khi tảo dày thì làm thưa từ từ, khi tảo tàn thì giữ oxy trước rồi mới gây màu. Với ao tôm nước lợ, tảo lục lấn tảo khuê là lời nhắc kiểm tra độ mặn và lượng đạm dư.
Nếu ao đang xanh đặc, pH chiều cao hoặc nước vừa đổi màu sau mưa, người nuôi có thể gọi Hotline 0982 266 640 hoặc gửi ảnh nước ao, độ trong và pH sáng, chiều cho đội ngũ kỹ sư Green Bio. Kỹ sư sẽ đọc tình trạng tảo, tính liều theo thể tích thực tế của ao và theo dõi ao trong những ngày sau xử lý, hoàn toàn miễn phí. Khi cần vi sinh xử lý nước, người nuôi có thể đặt Bio 102 và Bio Clear, hoặc xem thêm nhóm chế phẩm xử lý nước ao tôm.
