Tôm chậm lớn là tình trạng tôm tăng trọng thấp hơn mức bình thường của giai đoạn nuôi. Nguyên nhân thường gặp nhất là vi bào tử trùng EHP ký sinh ở gan tụy, virus còi IHHNV trên tôm thẻ, virus MBV trên tôm sú, con giống kém, môi trường ao bất ổn hoặc cho ăn sai cách. Tôm khựng size kéo dài khiến FCR tăng, vụ nuôi phải kéo thêm vài tuần và giá bán tụt vì tôm nhỏ, to nhỏ lẫn lộn. Cùng Green Bio tìm hiểu tôm chậm thật hay không, nguyên nhân tôm chậm lớn qua kiểu phân đàn, phân biệt tôm thẻ chậm lớn với tôm sú chậm lớn và xử lý theo đúng từng nguyên nhân.

Tôm chậm lớn
Tôm chậm lớn

Tôm chậm lớn đến mức nào thì người nuôi mới cần lo?

Chúng tôi gặp không ít người nuôi gọi điện vì sốt ruột “tôm không chịu lớn”, nhưng khi cân mẫu thì tôm vẫn đang tăng trọng đúng nhịp, chỉ chậm hơn ao bên cạnh thả giống khác hoặc nuôi mật độ thưa hơn. Muốn biết tôm có chậm thật hay không, người nuôi cần so với mốc tăng trọng theo ngày, không so bằng mắt hay so với ao hàng xóm.

Tôm bị chậm lớn
Tôm chậm lớn có thể do nhiều nguyên nhân

Ngoài thực địa, chúng tôi hay dùng các mốc tham khảo sau:

  • Tôm thẻ chân trắng: sau khoảng 30 ngày tuổi, ao đất nuôi bình thường thường tăng chừng 1-1,5 g/tuần. Ao bạt, ao tròn nuôi thâm canh có thể đạt 1,5-2,5 g/tuần.
  • Tôm sú: tháng đầu lớn chậm hơn tôm thẻ, từ tháng thứ hai thường tăng khoảng 1-1,5 g/tuần nếu đáy ao sạch và độ mặn ổn định.
  • Tín hiệu cần lo: hai lần cân liên tiếp (cách nhau 7-10 ngày) tôm tăng dưới một nửa các mốc trên, hoặc trọng lượng gần như đứng yên dù tôm vẫn ăn.

Các con số này chỉ để tham khảo vì còn phụ thuộc dòng giống, mật độ, độ mặn và mùa vụ. Điều quan trọng hơn là ghi lại số liệu cân mẫu theo từng tuần của chính ao mình, vì đường tăng trọng đột ngột gãy xuống mới là dấu hiệu đáng tin nhất. Tôm lớn nhờ thức ăn được tiêu hóa và hấp thu qua gan tụy, nên khi tăng trọng khựng lại, cơ quan nên kiểm tra đầu tiên là gan và ruột. Phần nền tảng về cơ quan này nằm trong bài tôm bị bệnh gan.

Kiểm tra thế nào để biết tôm chậm đều hay đang phân đàn?

Nhiều người nuôi chỉ chài một lần ở gần cầu cho ăn, đếm số con trên ký rồi kết luận tôm chậm. Cách này khá dễ sai, vì tôm khỏe thường gom về chỗ cho ăn còn tôm yếu, tôm còi hay dạt ra góc ao, mé bờ hoặc những chỗ ít dòng chảy. Chính vì vậy, cân con số trung bình thôi chưa đủ mà phải xem cả độ đồng đều của đàn tôm.

Dấu hiệu tôm chậm lớn
Kiểm tra tôm chậm lớn

Cách tính hệ số phân đàn ngay bên bờ ao

  • Chài ít nhất 3-4 điểm, gồm khu gần quạt, khu giữa ao và góc ao ít dòng chảy.
  • Bắt ngẫu nhiên khoảng 50-100 con, thấm khô rồi cân từng con bằng cân điện tử (loại 0,1 g là đủ).
  • Tính trọng lượng trung bình và độ lệch chuẩn. Máy tính điện thoại hoặc bảng tính Excel đều có sẵn hàm.
  • Hệ số phân đàn CV% = độ lệch chuẩn chia cho trọng lượng trung bình, nhân 100.

Ví dụ: 60 con có trọng lượng trung bình 8 g, độ lệch chuẩn 2,4 g thì CV = 2,4 / 8 × 100 = 30%. Nếu không có cân từng con, người nuôi có thể chia mẫu thành ba nhóm lớn, vừa và nhỏ rồi xem tỷ lệ mỗi nhóm. Cách này kém chính xác hơn nhưng vẫn cho thấy rõ đàn tôm đều hay lệch.

Phân biệt chậm đều cả đàn khác gì so với chậm kèm phân đàn

Thực tế ngoài ao, chúng tôi dùng các mốc kinh nghiệm sau: CV dưới 15% là đàn tôm khá đều, 15-25% bắt đầu phân đàn, trên 25-30% là phân đàn nặng. Ở mức phân đàn nặng, người nuôi sẽ thấy tôm to gần gấp đôi tôm nhỏ trong cùng một vó.

  • Cả đàn cùng chậm, CV vẫn thấp: cả đàn cùng bị một yếu tố kéo lại, thường là môi trường (oxy đêm thấp, nhiệt độ, độ mặn), thiếu khoáng hoặc cho ăn thiếu. Đây là nhóm dễ cứu nhất.
  • Chậm kèm phân đàn mạnh, CV cao: một phần đàn bị tổn thương riêng còn phần kia vẫn lớn bình thường. Kiểu này thường do mầm bệnh truyền dọc từ giống (IHHNV, MBV) hoặc do EHP và ký sinh trùng đường ruột lan dần trong ao.

Thêm một tiêu chí nữa là thời điểm bắt đầu chậm. Nếu tôm lệch ngay từ lần chài đầu tiên (khoảng 20-30 ngày tuổi), người nuôi nên nghĩ tới con giống. Nếu tôm đang lớn tốt rồi khựng ở khoảng ngày 40-60, nghi EHP hoặc bệnh đường ruột. Nếu tôm khựng ngay sau đợt mưa lớn, nắng nóng kéo dài hay chuyển mùa thì nghiêng về môi trường. Ba thông tin kiểu chậm, CV và thời điểm gộp lại thường đã đủ khoanh vùng đến 70-80% hướng chẩn đoán trước khi phải gửi mẫu xét nghiệm.

Kiểm tra gì trên con tôm để khoanh vùng nguyên nhân?

Sau khi cân xong, người nuôi đừng đổ mẫu tôm xuống ao ngay. Cũng mẻ tôm đó, nhặt riêng 5-10 con nhỏ nhất và 5-10 con lớn nhất ra so sánh. Sự khác biệt giữa hai nhóm mới là manh mối.

  • Gan tụy: con nhỏ có gan nhạt màu, teo hoặc nhũn trong khi con lớn gan bình thường thì nghi EHP hoặc bệnh gan tụy.
  • Đường ruột: ruột đứt khúc, trống ruột, thức ăn không liền mạch, phân lỏng hoặc trắng lác đác trên vó là dấu hiệu bệnh đường ruột, thường đi cùng EHP hoặc ký sinh trùng.
  • Chủy và râu: chủy cong lệch sang một bên, râu nhăn, vỏ sần sùi thì nghi hội chứng còi dị hình do IHHNV, chủ yếu gặp trên tôm thẻ.
  • Vỏ và cơ: vỏ mềm kéo dài, tôm lột không đều, cơ đục thì nghĩ tới thiếu khoáng hoặc độ kiềm thấp.
  • Thân hình: tôm sú nhỏ, thân mảnh, sậm màu, nuôi 3-4 tháng mà vẫn như “tôm kim” là dấu hiệu gợi ý MBV.

Nếu cả hai nhóm tôm đều trông khỏe, gan ruột bình thường thì khả năng cao nguyên nhân nằm ở môi trường hoặc cách cho ăn hơn là bệnh.

Bảng phân biệt các nguyên nhân tôm chậm lớn

Nguyên nhânKiểu chậmDấu hiệu đi kèm trên tômThời điểm hay lộ rõCách xác nhận
Vi bào tử trùng EHPPhân đàn tăng dần, tôm vẫn ăn nhưng không lên kýGan nhạt hoặc teo, ruột đứt khúc, có thể kèm phân trắngKhoảng ngày 30-60PCR mẫu gan tụy, soi bào tử
IHHNV (hội chứng còi dị hình)Phân đàn mạnh ngay từ đầu, một nhóm tôm “đứng size”Chủy cong lệch, râu nhăn, vỏ sầnLần chài đầu tiênPCR mẫu giống hoặc mẫu tôm
MBV (chủ yếu ở tôm sú)Một phần đàn rất nhỏ, kéo dài suốt vụThân mảnh, sậm màu, chậm chuyển giai đoạnTừ tôm giống đến tháng thứ 2-3Soi thể ẩn trong gan tụy, PCR
Ký sinh trùng đường ruột (Gregarine, vermiform)Phân đàn vừa, tôm giảm ăn từng đợtRuột vàng nhạt, phân trắng, có “dòi trắng” trong ruột khi soiGiữa vụ, ao nhiều mùn đáySoi tươi ruột và gan tụy
Môi trường (oxy đêm, nhiệt độ, độ mặn, khí độc)Cả đàn chậm đều, CV thấpTôm ăn giảm vào sáng sớm, nổi đầu nhẹ lúc rạng sángSau mưa, nắng nóng, chuyển mùaĐo DO lúc 4-5 giờ sáng, đo NH3, NO2, độ mặn
Thiếu khoáng, kiềm thấpChậm đều, lột không đềuVỏ mềm kéo dài, cơ đục, cong thânAo độ mặn thấp, sau mưaĐo kiềm, Ca, Mg
Cho ăn sai (thiếu, dư hoặc thức ăn kém)Chậm đều, FCR tăngVó sạch quá nhanh hoặc dư nhiềuBất kỳ giai đoạnĐối chiếu lượng ăn với sinh khối ước tính

Tôm thẻ chậm lớn thường do đâu?

Với tôm thẻ chân trắng, EHP đứng đầu danh sách nguyên nhân mà chúng tôi gặp khi đi ao. Kiểu bệnh khá đặc trưng: tôm vẫn ăn, vó vẫn sạch, nhưng mỗi lần chài thì số con trên ký giảm rất chậm và đàn tôm cứ lệch dần ra.

Một khảo sát năm 2025 của nhóm tác giả Trường Đại học Trà Vinh tại 58 ao nuôi thuộc 53 trại ở Vĩnh Long phát hiện EHP trong 48,28% mẫu tôm. Tôm nhiễm thường chậm lớn, phân đàn, ruột đứt khúc và gan nhạt màu. Con số này cho thấy ở vùng nuôi tôm thẻ trọng điểm, gần một nửa số ao có thể đang nuôi chung với EHP mà người nuôi không hề biết. Cơ chế, đường lây và cách phòng EHP được phân tích kỹ trong bài bệnh EHP trên tôm.

Dấu hiệu phân đàn do EHP
Dấu hiệu phân đàn do EHP

Nguyên nhân thứ hai hay bị bỏ sót là IHHNV. Tôm thẻ nhiễm IHHNV hiếm khi chết hàng loạt mà biểu hiện bằng tôm còi, dị hình và phân đàn rất mạnh khi thu hoạch. Tổng quan về các bệnh virus trên tôm trong danh mục của WOAH, đăng trên tạp chí Viruses năm 2022, ghi nhận nhiễm IHHNV mạn tính làm tôm chậm lớn, chủy biến dạng, râu nhăn và vỏ sần.

Mẹo nhỏ khi kiểm tra: người nuôi nhặt riêng nhóm tôm nhỏ nhất và đặt lên nền trắng. Nếu thấy nhiều con có chủy lệch hẳn sang một bên thì gần như có thể nghĩ ngay tới IHHNV, vì EHP không gây biến dạng chủy.

Ao bạt nuôi mật độ cao còn có thêm một kiểu chậm riêng: tôm lớn tốt đến khoảng 15-20 con/kg rồi khựng lại do sinh khối đã vượt sức tải của hệ thống quạt và lọc. Kiểu này cả đàn chậm đều, CV thấp, oxy sáng sớm sát ngưỡng. Giải pháp lúc này là san thưa hoặc thu tỉa chứ không phải dùng thuốc.

Tôm sú chậm lớn có gì khác tôm thẻ?

Tôm sú là loài sống đáy, ban ngày vùi mình nhiều hơn tôm thẻ. Vì vậy chất lượng nền đáy ảnh hưởng tới tốc độ lớn của tôm sú rõ hơn hẳn. Ao có lớp bùn đen, mùn bã dày ở rốn ao thì tôm sú hay lột chậm, ăn kém vào ban đêm và lớn ì ạch dù nước tầng mặt nhìn vẫn đẹp. Trước khi nghi bệnh, người nuôi tôm sú nên kiểm tra đáy, nhất là vùng rốn ao và khu cho ăn, rồi tham khảo cách xử lý đáy ao nuôi tôm bằng vi sinh.

Tôm sú chậm lớn tách đàn
Tôm sú chậm lớn tách đàn

Về mầm bệnh, MBV là cái tên gắn liền với tôm sú chậm lớn. Tôm nhiễm nặng từ giai đoạn giống thường chuyển giai đoạn không đều, đến tháng thứ 3-4 vẫn còn một nhóm tôm rất nhỏ mà người nuôi quen gọi là “tôm kim”. MBV hiện không có thuốc đặc trị, nên giá trị lớn nhất nằm ở khâu chọn giống có xét nghiệm PCR âm tính. Phần dấu hiệu và cách phòng MBV xem trong bài bệnh MBV trên tôm.

Một điểm khác nữa là tôm sú cần độ mặn ổn định và chịu biến động độ mặn kém hơn tôm thẻ trong giai đoạn lột xác. Sau những trận mưa lớn kéo dài, chúng tôi thường thấy ao tôm sú khựng size 1-2 tuần dù tôm không bệnh. Chỉ cần ổn định lại độ mặn, kiềm và khoáng là tôm lớn tiếp, không cần dùng thêm thuốc.

Khi đã loại trừ bệnh, môi trường và cách cho ăn ghìm tôm lại ra sao?

Nếu cả đàn chậm đều, gan ruột bình thường và tôm không dị hình thì người nuôi nên kiểm tra lại môi trường và cách cho ăn. Ở nhóm này, nhiều người nuôi đo nước vào giữa trưa thấy mọi chỉ số đều đẹp, trong khi vấn đề lại nằm ở lúc rạng sáng.

  • Oxy hòa tan lúc rạng sáng: khi oxy lúc 4-5 giờ sáng thường xuyên dưới khoảng 4 mg/L, tôm không chết nhưng giảm ăn, tiêu hóa kém và tốn năng lượng để thở thay vì để lớn. Cách đo và ngưỡng cụ thể xem trong bài oxy hòa tan trong ao.
  • Khí độc: NH3 và NO2 ở mức thấp kéo dài không làm tôm chết nhưng âm thầm bào mòn mang và gan. Xem thêm về khí độc NH3 để biết mức nào đã đủ ghìm tôm lại.
  • Nhiệt độ: nước dưới khoảng 26°C vào mùa lạnh hoặc trên 33°C vào trưa hè đều làm tôm ăn ít và lột chậm. Mốc theo từng loài nằm trong bài nhiệt độ thích hợp nuôi tôm.
  • Độ mặn và khoáng: ao độ mặn thấp dễ thiếu Ca, Mg, K làm tôm lột khó, vỏ mềm lâu. Người nuôi nên đối chiếu với ngưỡng độ mặn nuôi tôm và kiểm tra dấu hiệu tôm thiếu khoáng.

Cách cho ăn cũng hay bị đánh giá sai. Nhiều người nuôi thấy tôm chậm lớn liền tăng cữ ăn, nhưng nếu gan đang yếu thì thức ăn dư chỉ làm bẩn đáy và đẩy FCR lên cao hơn. Ngược lại, có những ao ước lượng sinh khối thấp hơn thực tế nên cho ăn thiếu kéo dài, tôm đói và lớn chậm mà người nuôi không nhận ra. Cách đơn giản nhất là đối chiếu lượng thức ăn mỗi ngày với sinh khối ước tính từ chài mẫu, rồi theo dõi chỉ số FCR theo tuần. FCR tăng vọt trong khi tôm vẫn ăn hết thức ăn là tín hiệu rất gợi ý EHP hoặc bệnh gan tụy, nên quay lại bước soi gan ruột.

Cách xử lý tôm chậm lớn theo từng nguyên nhân

Tôm chậm lớn không có một phác đồ chung. Mỗi nguyên nhân cần một hướng xử lý khác nhau, và có những nguyên nhân mà giải pháp đúng nhất lại là một quyết định quản lý chứ không phải dùng thuốc.

Tôm nhiễm EHP hoặc ký sinh trùng đường ruột

Hiện chưa có thuốc nào tiêu diệt hoàn toàn bào tử EHP trong gan tụy tôm, kể cả kháng sinh, nên cần nói thẳng điều này để người nuôi không tốn tiền vô ích. Mục tiêu thực tế là giảm áp lực mầm bệnh trong ao, giảm mật độ bào tử trong gan tụy và giữ cho tôm còn đủ sức ăn và lớn đến cỡ thu hoạch có lãi.

  • Siphon hoặc xả đáy thường xuyên hơn, vì bào tử EHP thải theo phân tích tụ ở đáy ao rồi được tôm ăn lại.
  • Giảm 10-20% lượng ăn trong vài ngày đầu để gan bớt quá tải, sau đó tăng dần theo sức ăn thực tế trên vó.
  • Bổ sung hoạt chất hỗ trợ đường ruột qua thức ăn. Saponin từ Yucca schidigera kết hợp với curcumin từ nghệ vàng là cặp hoạt chất có tác dụng hỗ trợ kiểm soát mật độ EHP và nội ký sinh, đồng thời giúp gan tụy phục hồi.

Với ao tôm thẻ đã xác định nhiễm EHP, chúng tôi dùng Bio King với liều 5 g/kg thức ăn, cho ăn 2 cữ/ngày, liên tục 3-5 ngày. Không trộn chung với hóa chất hoặc kháng sinh, và ngưng dùng 3 ngày trước khi thu hoạch.

Bio King giúp ngăn ngừa EHP trên tôm
Bio King giúp ngăn ngừa EHP trên tôm

Với ký sinh trùng Gregarine và vermiform, cách xử lý cũng tập trung vào làm sạch đáy và hỗ trợ đường ruột. Điểm phân biệt hai loại này với EHP được trình bày trong bài ký sinh trùng Gregarine và bài vermiform trên tôm. Nếu ao có phân trắng đi kèm, hãy xử lý theo hướng dẫn về bệnh phân trắng trên tôm trước, vì đường ruột tổn thương thì mọi giải pháp kích tăng trọng đều vô ích.

Tôm vừa qua bệnh, đường ruột còn yếu

Đây là nhóm chúng tôi gặp rất nhiều. Ao vừa trị xong phân trắng hoặc vừa dùng kháng sinh khi tôm bị nhiễm khuẩn, tôm hết bệnh nhưng 1-2 tuần sau vẫn không lên size. Lý do là hệ vi sinh đường ruột bị xáo trộn và gan cần thời gian hồi phục nên tôm ăn vào mà hấp thu kém. Ở giai đoạn này, men vi sinh nhóm Bacillus kết hợp enzyme tiêu hóa là lựa chọn hợp lý vì giúp tái lập hệ vi sinh có lợi và tăng hiệu suất tiêu hóa thức ăn.

Green Bio có Bio Boom, sản phẩm kết hợp ba chủng Bacillus, tám loại enzyme tiêu hóa và nhóm axit amin thiết yếu, dùng được cho cả tôm thẻ và tôm sú. Khi đường ruột còn yếu hoặc tôm kém ăn, trộn 5 ml/kg thức ăn, 2 cữ/ngày trong 3-5 ngày, sau đó giảm xuống liều định kỳ theo hướng dẫn của kỹ sư. Nếu người nuôi gửi ảnh gan ruột tôm sau đợt điều trị, kỹ sư Green Bio có thể xem giúp tôm đã đủ điều kiện chuyển sang giai đoạn kích tăng trọng hay chưa.

Bio Boom siêu tăng trọng dành cho tôm
Bio Boom siêu tăng trọng dành cho tôm

Tôm lột xác khó, vỏ mềm kéo dài

Tôm chỉ tăng kích thước sau mỗi lần lột xác. Vì vậy tôm lột không được hoặc vỏ mềm lâu chưa cứng thì gần như cả đàn đứng size. Trường hợp này thường gặp ở ao độ mặn thấp hoặc ngay sau mưa lớn, khi kiềm và Mg trong nước sụt nhanh. Ngoài việc nâng kiềm lên khoảng 120-160 mg CaCO3/L bằng vôi hoặc khoáng tạt, tôm cần được bổ sung Mg, Zn và Mn qua thức ăn để hình thành vỏ mới nhanh hơn.

Bio Canximag giúp bổ sung khoáng chất cho tôm
Bio Canximag giúp bổ sung khoáng chất cho tôm

Bio Canximag có thành phần MgSO4, ZnSO4 và MnSO4, phù hợp cho tình huống này. Khi tôm mềm vỏ hoặc khó lột, trộn 10 ml/kg thức ăn, 1 lần/ngày, liên tục 2–3 ngày và tạt thêm vitamin C. Sau đó duy trì 5 ml/kg thức ăn mỗi ngày. Cách nhận biết và xử lý triệt để tình trạng này có trong bài tôm bị mềm vỏ.

Tôm chậm đều do môi trường

Với nhóm này, người nuôi xử lý thẳng vào chỉ số bị lệch thay vì dùng thêm thuốc bổ. Oxy rạng sáng thấp thì tăng giờ chạy quạt từ nửa đêm đến sáng, nhất là các đêm trời âm u. Nhiệt độ cao thì tăng mực nước, che lưới ở ao ương và dời cữ ăn trưa sang chiều mát. Khí độc cao thì siphon đáy, giảm ăn và dùng vi sinh xử lý đáy. Thường chỉ sau 7-10 ngày môi trường ổn định là lần chài sau đã thấy tôm tăng trọng rõ.

Tôm còi do IHHNV, MBV hoặc giống kém

Đây là nhóm khó chịu nhất, vì tôm còi do virus truyền từ giống gần như không thể “kéo lại” bằng thuốc hay thức ăn. Hướng hợp lý là giảm thiệt hại: thu tỉa bớt nhóm tôm lớn để nhóm còn lại có không gian và oxy, giảm mật độ và tập trung chăm cho phần tôm có khả năng đạt cỡ thương phẩm. Bài học lớn nhất nằm ở vụ sau: chọn giống có kết quả PCR âm tính với IHHNV, MBV và EHP. Hướng dẫn cụ thể về khâu này có trong bài kiểm soát con giống trước khi thả.

Dù tôm chậm lớn vì nguyên nhân nào, người nuôi tuyệt đối không dùng kháng sinh để “kích lớn” và không dùng các loại chất tăng trọng không rõ nguồn gốc. Những sản phẩm này không giúp tôm lớn mà còn có nguy cơ để lại tồn dư khiến lô tôm bị trả về khi kiểm tra ở nhà máy.

Khi nào nên thu sớm thay vì cố nuôi tiếp?

Câu hỏi này ít người hỏi nhưng lại quyết định lời lỗ của cả vụ. Ao tôm phân đàn nặng, CV trên 30% và đã xác định do virus truyền từ giống, nếu cố nuôi thêm 3-4 tuần chờ nhóm tôm nhỏ lớn kịp thì thường lỗ thêm tiền thức ăn, điện quạt và rủi ro bệnh phát sinh, trong khi nhóm tôm nhỏ vẫn không đạt size bán được giá.

Chúng tôi thường khuyên người nuôi tự làm một phép so sánh đơn giản trước khi quyết định:

  • Ước tính chi phí nuôi thêm mỗi tuần, gồm thức ăn, điện, chế phẩm và công.
  • Ước tính phần sinh khối tăng thêm mỗi tuần dựa trên tốc độ tăng trọng thực tế của 2-3 lần chài gần nhất, không dựa trên mốc lý thuyết.
  • So với chênh lệch giá bán giữa size hiện tại và size dự kiến.

Nếu phần tăng thêm không bù được chi phí, hoặc ao bắt đầu có dấu hiệu bệnh khác như tôm rớt đáy hay gan mềm nhũn, thu tỉa hoặc thu toàn bộ sớm thường là lựa chọn an toàn hơn. Với ao chậm do môi trường hay thiếu khoáng thì ngược lại, chỉ cần xử lý đúng là tôm lớn lại khá nhanh, nên tiếp tục nuôi thường có lời. Phân biệt được hai trường hợp này chính là lý do người nuôi cần chài mẫu và tính CV ngay từ đầu.

Câu hỏi thường gặp về tôm chậm lớn

Tôm chậm lớn có nên tăng cữ ăn không?

Chỉ nên tăng cữ ăn khi đã xác định tôm đang bị cho ăn thiếu, tức là vó sạch sớm, gan ruột tốt và sinh khối thực tế cao hơn mức đang tính. Nếu tôm chậm lớn do EHP hoặc gan yếu, tăng ăn chỉ làm dư thức ăn, bẩn đáy và tăng FCR.

Dùng thuốc tăng trọng có giúp tôm lớn nhanh không?

Men tiêu hóa, enzyme và khoáng chỉ phát huy tác dụng khi tôm không bị bệnh nặng và môi trường đã ổn định. Không có sản phẩm nào làm tôm còi do virus lớn kịp tôm khỏe. Người nuôi nên xác định nguyên nhân trước rồi mới chọn sản phẩm hỗ trợ.

Kết luận

Tôm chậm lớn chỉ là triệu chứng. Muốn xử lý đúng, người nuôi cần đo được mức chậm, tính được độ phân đàn và biết tôm bắt đầu chậm từ lúc nào. Chậm đều cả đàn thường do môi trường, khoáng hoặc cách cho ăn và khá dễ cứu. Chậm kèm phân đàn mạnh thì nghi EHP, IHHNV hay MBV và cần xét nghiệm để quyết định nên nuôi tiếp hay thu sớm.

Nếu ao đang khựng size mà chưa rõ nguyên nhân, hãy gọi Hotline 0982 266 640 hoặc gửi cho kỹ sư Green Bio ảnh gan ruột tôm, kết quả cân mẫu và chỉ số nước ao. Kỹ sư sẽ đọc giúp kiểu phân đàn, tính liều theo thể tích ao thực tế và theo dõi ao cùng người nuôi qua các lần chài tiếp theo. Khi đã rõ hướng xử lý, người nuôi có thể tham khảo Bio King, Bio Boom hoặc nhóm hỗ trợ điều trị bệnh cho tôm để đặt hàng.

Nhận tư vấn
Chat ngay
0982 266 640
GỌI NGAY