Cá bị thối mang là bệnh nhiễm khuẩn ở mang do vi khuẩn dạng sợi Flavobacterium columnare gây ra. Vi khuẩn ăn mòn đầu tơ mang, làm mang bạc trắng, nhiều nhớt và đóng bùn, hay gặp nhất ở cá trắm cỏ, cá lóc, cá rô phi và cá chép. Mang hỏng thì cá không lấy được oxy dù quạt chạy hết công suất, nên cá chết rải rác rồi tăng nhanh chỉ sau vài ngày. Trong bài viết này, Green Bio sẽ hướng dẫn người nuôi cách xác định bệnh thối mang ở cá ngay tại bờ ao, cách chọn kháng sinh còn nhạy và cách tính liều riêng khi cá bị thối mang.

Bệnh thối mang trên cá
Bệnh thối mang trên cá

Cá bị thối mang là bệnh gì, do tác nhân nào gây ra?

Nhiều người nuôi gọi chung mọi kiểu mang trắng, mang nát là “thối mang”. Về bệnh học, thối mang đúng nghĩa là bệnh do vi khuẩn Flavobacterium columnare. Đây là vi khuẩn Gram âm, hình que dài và mảnh, sống sẵn trong nước và bùn ao nước ngọt. Bình thường vi khuẩn chỉ nằm chờ. Khi đáy ao nhiều mùn, nước ấm và mang cá đã bị trầy xước hay kích ứng, chúng bám vào tơ mang, nhân lên thành từng đám và tiết enzyme phân hủy mô mang.

Điểm cần nhớ là vi khuẩn này tấn công từ ngoài vào, bắt đầu ở đầu mút tơ mang, rồi ăn dần vào phía trong. Vì vậy dấu hiệu sớm nhất luôn nằm ở mép ngoài của lá mang. Ngoài mang, vi khuẩn còn gây xơ vây và các mảng bạc màu trên da. Trong cụm các bệnh trên cá trắm cỏ, thối mang là bệnh làm cá chết nhanh nhất ở nhóm cá thịt.

Cá bị thối mang
Cá bị thối mang

Nghiên cứu của Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam lấy 103 mẫu cá trắm cỏ từ 25 hộ nuôi ở Hà Nội, Hải Dương và Bắc Ninh. Khi gây nhiễm thử, các chủng F. columnare phân lập được làm chết 100% cá trắm cỏ cỡ 25-30 g trong 48-72 giờ. Con số này giải thích vì sao bệnh hay “đánh úp” ao nuôi: hôm trước cá còn ăn, hai hôm sau đã vớt cá chết.

Vì sao cá trắm cỏ, cá chép, cá rô phi, cá lóc hay bị thối mang hơn các loài khác?

bốn loài này cùng sống sát đáy và cùng hay nuôi trong ao đất nhiều bùn. Tuy vậy, đường dẫn tới bệnh ở mỗi loài lại khác nhau.

Cá trắm cỏ bị nấm mang

Cá trắm cỏ ăn lượng cỏ rất lớn mỗi ngày. Cỏ ăn không hết, cỏ dập lá hay cỏ cắt từ ruộng có bùn chìm xuống góc ao sẽ phân hủy rất nhanh khi trời nóng. Lớp đáy quanh khung cho ăn trở thành chỗ hữu cơ đậm đặc nhất ao, đúng là nơi F. columnare phát triển mạnh. Cá lại tụ về khung cỏ mỗi bữa nên mang tiếp xúc trực tiếp với vùng nước bẩn nhất.

Cá trắm cỏ bị thối mang
Cá trắm cỏ bị thối mang

Ở trắm cỏ, thối mang hiếm khi đi một mình. Ngoài ao, chúng tôi gặp nhiều ca thối mang đi kèm bệnh đốm đỏ trên cá và viêm ruột trên cùng một đàn. Nếu chỉ chữa phần mang, bệnh sẽ quay lại theo đường ruột.

Cá chép bị thối mang

Cá chép có tập tính sục đáy tìm mồi, làm bùn và mùn bã đi thẳng qua mang. Mang bị trầy nhỏ liên tục là cửa ngõ thuận lợi cho vi khuẩn bám. Ao chép ghép nhiều loài, mật độ dày và đáy nhiều năm chưa vét là kiểu ao chúng tôi hay gặp thối mang nhất.

Cá chép bị thối mang
Cá chép bị thối mang

Một bài tổng quan trên tạp chí Veterinary Research cũng ghi nhận rằng độ cứng nước, hàm lượng hữu cơ và nitrite cao làm vi khuẩn columnare bám mang tốt hơn và độc lực mạnh hơn. Quản lý đáy ao vì thế là phần phòng bệnh, không chỉ là chuyện giữ nước đẹp.

Cá rô phi bị thối mang

Người nuôi thường nghĩ thối mang chỉ là bệnh của mùa nóng. Với rô phi ở miền Bắc thì không phải vậy. Nhóm nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thu 138 mẫu từ 34 đợt bệnh tại 21 trại ở Hòa Bình, Hà Nam và Hải Dương. Kết quả cho thấy bệnh do F. columnare trên cá rô phi xuất hiện quanh năm nhưng tập trung và gây thiệt hại nhiều nhất vào vụ đông xuân, với tỷ lệ chết ở ao bệnh từ 5% đến 35%.

Cá rô phi bị thối mang
Cá rô phi bị thối mang

Lý do nằm ở bản thân con cá. Rô phi là loài nhiệt đới, nước lạnh kéo dài khiến cá ăn kém, sức đề kháng giảm và lớp nhớt bảo vệ mang mỏng đi. Vi khuẩn không cần nước nóng mới gây bệnh, chỉ cần cá đủ yếu. Vì vậy, sau mỗi đợt rét đậm, nhất là ở ao rô phi hay lồng diêu hồng đã san cá hoặc vận chuyển trước đó, người nuôi nên lật mang kiểm tra ngay khi thấy cá ăn chậm.

Trên rô phi, thối mang thường đi kèm đốm bạc trắng trên da và xơ vây, có mảng ở lưng hoặc gốc đuôi. Đây là điểm dễ phân biệt với bệnh liên cầu khuẩn trên rô phi: cá bị liên cầu lồi mắt, bơi xoay tròn và xuất huyết nội tạng, còn mang thường không bị rữa. Lật mang thấy đầu tơ mang trắng xám và xơ thì nghĩ ngay tới thối mang. Mắt lồi và bơi quay tròn thì phải xử lý theo hướng liên cầu, vì hai bệnh dùng kháng sinh khác nhau.

Cá lóc bị thối mang

Cá lóc có cơ quan hô hấp phụ phía trên mang và đớp được khí trời. Nhờ đó, khi mang đã hỏng một phần, cá lóc vẫn sống được thêm ít ngày mà không nổi đầu hàng loạt như cá chép hay trắm cỏ. Đây chính là cái bẫy, khi ao trông vẫn yên, đến khi cá chết nổi thì mang đã rữa nặng.

Cá lóc bị thối mang
Cá lóc bị thối mang

Dấu hiệu cần để ý ở cá lóc là:

  • Cá đớp khí dồn dập hơn hẳn bình thường, nhất là lúc sáng sớm.
  • Cá nằm im sát bờ hoặc trong đám bèo, cỏ ven ao, chậm phản ứng khi có tiếng động.
  • Cá giảm ăn rõ chỉ sau 1-2 bữa.

Lật nắp mang sẽ thấy mang nhợt, nhiều nhớt, mép tơ mang trắng xám hoặc đã thối.

Ở cá lóc, thối mang và bệnh trắng da trên cá lóc thường là hai mặt của cùng một đợt nhiễm F. columnare. Đợt bệnh hay bùng sau khi phân cỡ, san thưa hoặc chuyển ao, vì lúc đó nhớt và mang cá bị trầy xước nhiều. Cá tạp cho ăn để ôi hoặc dư thừa cũng làm nước bẩn nhanh quanh khu cho ăn. Khi chỉ thấy da trắng mà chưa lật mang, người nuôi dễ chỉ sát khuẩn nước rồi dừng, trong khi phần mang mới là nơi quyết định cá sống hay chết.

Các nhóm bệnh khác trên loài này, người nuôi xem thêm bài bệnh trên cá lóc.

Bệnh thối mang ở cá diễn tiến thế nào trong vài ngày đầu?

Bệnh thối mang ở cá diễn tiến nhanh, nhưng mỗi mốc lại có dấu hiệu riêng. Ai nhận ra sớm sẽ đỡ tốn rất nhiều tiền thuốc.

  • Lúc mới chớm: Cá ăn chậm hơn bình thường, vài con bơi lờ đờ sát mặt nước lúc sáng sớm. Lật nắp mang thấy đầu mút tơ mang trắng đục, mang nhiều nhớt hơn bình thường nhưng chưa nát. Hầu hết người nuôi bỏ qua giai đoạn này vì tưởng cá chỉ thiếu oxy.
  • Sau 1-2 ngày: Mảng trắng xám lan vào giữa lá mang, bùn và nhớt bám thành từng cục, nên dân gian gọi là “mang đóng bùn”. Cá tụ về đầu cống cấp nước, quanh quạt hoặc chỗ nước chảy, nổi đầu cả giữa trưa khi oxy trong ao đang cao.
  • Khi đã nặng: Tơ mang rữa và đứt, mang có mùi hôi, xương nắp mang bị ăn mòn, có chỗ mỏng và xuất huyết. Da sẫm màu, vây xơ. Lúc này vi khuẩn Aeromonas thường nhiễm thêm vào (bội nhiễm), làm cá xuất huyết thân. Số cá chết tăng theo từng ngày.

Thời điểm nên kiểm tra là 5-6 giờ sáng, khi oxy trong ao thấp nhất. Cá đã hỏng mang lộ rõ nhất vào lúc này: chúng nổi trước và lặn sau cả đàn.

Dấu hiệu để nhận biết cá bị thối mang?

Cách chắc chắn nhất là bắt 3-5 con có biểu hiện điển hình, ưu tiên con còn sống và đang yếu, đừng lấy con đã chết lâu. Chúng tôi kiểm tra theo hai bước.

Nhìn bằng mắt thường: Thối mang do vi khuẩn có tổn thương bắt đầu từ mép ngoài lá mang: viền trắng xám, xơ như bị gặm và dính bùn. Phần gốc mang thường vẫn còn đỏ. Nếu mang loang lổ đỏ trắng xen kẽ như vân đá ngay từ giữa lá mang thì cần nghĩ tới nấm.

Soi tươi dưới kính hiển vi: Cắt một mẩu nhỏ ở đầu tơ mang, đặt lên lam kính với một giọt nước và soi ở vật kính 10x rồi 40x. Dấu hiệu đặc trưng của F. columnare là vi khuẩn que dài và mảnh tụ lại thành từng cột hoặc từng bó dựng đứng như bó rơm, có bó còn chuyển động lắc lư ở mép mô. Chưa có loại ký sinh trùng hay nấm mang nào cho hình ảnh như vậy. Thấy “bó rơm” là đủ cơ sở để xử lý theo hướng vi khuẩn.

Người nuôi không có kính hiển vi vẫn có thể chụp rõ mang cá (lật nắp, chụp gần, đủ sáng) và quay một đoạn video đàn cá lúc sáng sớm. Gửi cho kỹ sư Green Bio qua Hotline 0982 266 640, chúng tôi sẽ đọc tổn thương và báo nên lấy mẫu soi tiếp hay đã đủ để xử lý.

Bảng phân biệt cá lý do gây thối mang ở cá

Nhầm bệnh ở mang là lý do phổ biến khiến người nuôi tốn hai, ba lượt thuốc mà vẫn chưa cứu được ao cá. Bảng dưới tóm tắt những điểm phân biệt mà chúng tôi dùng ngoài ao trước khi lên phát đồ điều trị.

Bệnh Tổn thương mang nhìn bằng mắt Soi tươi thấy gì Loài hay gặp Điểm khác biệt đáng chú ý
Thối mang do vi khuẩn (F. columnare) Mép tơ mang trắng xám, xơ và rữa từ ngoài vào, đóng bùn, mùi hôi Vi khuẩn que dài tụ thành “bó rơm” Trắm cỏ, chép, mè, rô phi Hay kèm xơ vây và mảng bạc trên da
Nấm mang (Branchiomyces) Mang loang lổ đỏ trắng như vân đá, hoại tử từng mảng ở giữa lá mang Sợi nấm và bào tử nằm trong mạch máu mang Chép, trắm cỏ Hay bùng khi nước rất nóng và ao giàu tảo
Bệnh KHV (herpesvirus) Mang hoại tử trắng, nhiều nhớt, có thể giống hệt thối mang Không thấy tác nhân, cần xét nghiệm PCR Chỉ cá chép và cá koi Mắt trũng, chết rất nhanh; trắm cỏ cùng ao không chết
Ký sinh trùng mang (sán lá đơn chủ, trùng bánh xe) Mang nhợt, nhiều nhớt, phình nhẹ nhưng ít khi rữa Thấy sán hoặc trùng di động rõ Mọi loài, nhất là cá giống Cá cọ mình vào thành ao và bơi giật
Bệnh liên cầu khuẩn (Streptococcus) Mang thường không rữa, có thể nhợt Không thấy “bó rơm” trên mang Rô phi, diêu hồng Lồi mắt, bơi xoay tròn, xuất huyết nội tạng

Hai điểm quan trọng nhất trong bảng:

  • Nếu ao ghép chép với trắm cỏ mà chỉ cá chép chết, mang hoại tử và mắt trũng, phải nghĩ tới KHV trước. Kháng sinh không cứu được bệnh do virus.
  • Mang xơ nhưng soi thấy dày đặc sán hoặc trùng thì nguyên nhân chính là ký sinh trùng, vi khuẩn chỉ đến sau. Cần diệt sán lá đơn chủ hay trùng bánh xe trên cá trước rồi mới xét đến kháng sinh.

Với nấm mang, cách nhận biết và phác đồ khác hẳn thối mang. Người nuôi xem chi tiết ở bài cá bị nấm mang.

Vì sao nhiều ao trị thối mang bằng thuốc sulfa mà cá vẫn chết?

Câu chúng tôi hay nghe nhất khi xuống ao là: “Đã cho ăn thuốc 5 ngày rồi mà cá vẫn chết”. Hỏi kỹ thì rất nhiều trường hợp đã dùng nhóm sulfa phối hợp trimethoprim. Nhóm này rẻ, dễ mua và từ lâu được coi là “thuốc cá” quen tay.

Vấn đề nằm ở chỗ F. columnare phân lập từ cá trắm cỏ miền Bắc kháng sulfamethoxazole kết hợp trimethoprim và erythromycin với tỷ lệ khá cao. Cũng theo nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, vi khuẩn này lại nhạy 92-100% với doxycycline, amoxicillin, florfenicol và oxytetracycline. Nghĩa là thuốc sulfa có thể vẫn diệt được Aeromonas bội nhiễm, cá đỡ xuất huyết, nhưng tác nhân chính ở mang vẫn còn nguyên. Mang tiếp tục rữa và cá tiếp tục chết, chỉ chậm hơn.

Vì vậy, với cá bị thối mang đã xác định do vi khuẩn, chúng tôi chọn nhóm còn nhạy, trong đó kháng sinh florfenicol là lựa chọn dễ dùng nhất qua đường trộn thức ăn. Nhóm kháng sinh cotrim vẫn có chỗ đứng cho các bệnh do Aeromonas, nhưng không nên là thuốc đầu tay cho thối mang. Danh sách hoạt chất được phép dùng, người nuôi có thể tra trong bài các loại kháng sinh trong thủy sản.

Cách cứu ao cá đang bị thối mang theo từng giai đoạn

Thứ tự xử lý dưới đây bám theo cách bệnh tiến triển: trước hết giữ cho cá còn mang để thở, sau đó cắt vi khuẩn trong nước và trong cơ thể cá, cuối cùng dọn chỗ vi khuẩn sinh sôi.

Giảm tải cho mang ngay trong ngày phát hiện

  • Giảm 50-70% lượng ăn: Với trắm cỏ, ngưng hẳn cỏ trong những ngày dùng thuốc. Cá mang hỏng ăn no sẽ tốn thêm oxy để tiêu hóa, lại làm thức ăn thừa phân hủy thêm.
  • Tăng oxy liên tục, nhất là từ nửa đêm tới sáng. Cá thối mang chỉ còn một phần mang lấy được oxy, nên ngưỡng oxy hòa tan trong ao cần giữ cao hơn mức bình thường.
  • Vớt cá chết và cá yếu nằm sát bờ hai lần mỗi ngày, chôn xa ao có rắc vôi. Cá chết để lâu trong ao là nguồn vi khuẩn dày đặc nhất.
  • Ngưng cấp nước từ ao bên cạnh nếu ao đó cũng có cá nổi đầu.

Sát khuẩn nước để giảm lượng vi khuẩn bám mang

Vi khuẩn columnare lây chủ yếu qua nước, nên nếu chỉ cho cá ăn thuốc mà không giảm mật độ vi khuẩn trong ao thì mang vừa lành đã bị nhiễm lại. Ở bước này nên dùng chất sát khuẩn có cả BKC trong thủy sản lẫn glutaraldehyde. BKC phá màng tế bào vi khuẩn, còn glutaraldehyde diệt cả bào tử và vẫn có tác dụng khi nước nhiều chất hữu cơ, đúng kiểu nước ao đang thối mang.

Vua diệt khuẩn đặc trị nhiễm khuẩn, nấm, ký sinh trùng
Vua Diệt Khuẩn đặc trị nhiễm khuẩn, nấm, ký sinh trùng

Vua Diệt Khuẩn của Green Bio chứa glutaraldehyde tối thiểu 300.000 mg/lít và BKC tối thiểu 80.000 mg/lít, trong công dụng có ghi rõ thối mang. Khi cá đang bệnh, dùng 1 lít cho 2.000 m³ nước, pha loãng rồi tạt đều khắp ao lúc trời nắng và chạy quạt trong lúc tạt. Ví dụ ao 3.000 m², nước sâu 1,5 m (khoảng 4.500 m³) cần khoảng 2,25 lít. Không tạt nhiều ngày liền trên cùng một ao. Với cá giống nhỏ, nên hỏi kỹ sư để giảm liều.

Cho ăn kháng sinh theo liều hướng dẫn

Đây là chỗ cá trắm cỏ khác các loài khác. Cá chép, rô phi ăn cám viên nên có thể tính kháng sinh theo kg thức ăn. Cá trắm cỏ ăn cỏ là chính, lượng cám mỗi ngày rất ít, nên nếu tính theo cám thì cá gần như không nhận đủ thuốc. Với trắm cỏ, phải tính theo tổng khối lượng cá trong ao, rồi trộn toàn bộ lượng thuốc đó vào phần cám mà cá ăn hết trong 30-60 phút.

Bactomar
Bactomar kháng sinh Florfenicol phổ rộng

Florfenicol nằm trong nhóm vi khuẩn còn nhạy cao nên là lựa chọn hợp lý. Bactomar chứa florfenicol 200 g/lít, liều 1 ml cho 20 kg cá mỗi ngày, dùng liên tục 5-7 ngày. Ví dụ ao có khoảng 2.000 con trắm cỏ, trung bình 1,5 kg/con, tức 3.000 kg cá, thì mỗi ngày cần 150 ml Bactomar. Pha với ít nước, trộn đều vào cám, để 5-10 phút cho thuốc ngấm rồi mới cho ăn. Thời gian ngưng thuốc trước thu hoạch là 12 ngày.

Ao chép hoặc ao ghép chủ yếu ăn cám thì có thể tính theo thức ăn: 1 ml cho 1-1,2 kg thức ăn. Ước khối lượng đàn sai là lỗi khiến kháng sinh thất bại nhiều nhất. Nếu người nuôi không chắc số cá còn lại, kỹ sư Green Bio có thể cùng tính lại theo số lượng giống đã thả và tỷ lệ hao hụt thực tế.

Dọn đáy sau khi cá ăn lại

Khi cá chết giảm rõ và bắt đầu ăn trở lại, phải xử lý tiếp chỗ vi khuẩn sinh sôi, tức là lớp mùn quanh khung cỏ và góc ao. Vi sinh Bacillus subtilis kèm enzyme protease phân hủy cỏ thừa và mùn bã nhanh hơn để tự nhiên, đồng thời giảm khí độc NH3 đang làm mang cá vừa lành bị kích ứng tiếp.

Bio Enzym giúp làm sach đáy ao tôm cá
Bio Enzym giúp làm sach đáy ao tôm cá

Bio Enzym có thành phần đúng như vậy. Để làm sạch đáy và giảm khí độc, dùng 250 g cho 3.000 m³ nước, hòa với khoảng 50 lít nước sạch rồi tạt, tập trung nhiều hơn ở khu vực cho cá ăn. Chỉ dùng sau ít nhất 24 giờ kể từ lần sát khuẩn, nếu không thuốc sát khuẩn sẽ diệt luôn vi sinh vừa đưa vào.

Có thể sử dụng muối, vôi, thuốc tím để trị thối mang được không?

Người nuôi lâu năm đều có vài cách quen tay. Không phải cách nào cũng sai, nhưng cần dùng đúng chỗ.

  • Tắm muối 2-3% trong 10-15 phút rất hiệu quả cho cá giống trước khi thả hoặc cá nuôi lồng bể có thể vớt ra. Muối giúp cá tiết nhớt mới và loại bớt vi khuẩn bám ngoài mang. Với ao đất rộng thì tạt muối không đủ nồng độ để có tác dụng.
  • Vôi dùng tốt khi cải tạo ao và treo túi ở đầu dòng chảy. Khi cá đang thối mang, không nên tạt vôi bột liều cao: pH tăng đột ngột làm NH3 tăng theo và mang đang tổn thương càng bị kích ứng. Cách dùng an toàn có trong bài vôi thủy sản.
  • Thuốc tím (KMnO4) sát khuẩn mạnh, nhưng tiêu tốn oxy và đốt cháy chất hữu cơ, nên dễ làm ao thiếu oxy lúc nửa đêm. Đó lại đúng là thời điểm cá thối mang yếu nhất. Chỉ dùng khi kiểm soát được oxy và đừng dùng chung ngày với chất sát khuẩn khác.

Một số tài liệu nước ngoài về cá cảnh vẫn nhắc xanh malachite và chloramphenicol để trị columnaris. Cả hai đều bị cấm trong nuôi cá thương phẩm tại Việt Nam, để lại tồn dư lâu trong thịt cá và có thể làm cả lô cá bị trả về.

Thối mang có lây sang các ao xung quanh không?

Có, và lây khá nhanh. F. columnare đi theo nước thải, theo cá chết bị chim hoặc chó kéo sang bờ ao khác, theo lưới, vợt, thau dùng chung. Vùng nuôi trắm cỏ, chép có nhiều ao liền kề cấp thoát nước chung là nơi bệnh dễ lan theo dây chuyền.

Khi một ao đã có bệnh:

  • Dùng dụng cụ riêng cho ao đó và ngâm sát trùng sau mỗi lần dùng.
  • Không xả nước ao bệnh ra kênh chung trong thời gian điều trị.
  • Ao bên cạnh dùng chung nguồn nước nên sát khuẩn định kỳ sớm hơn lịch và theo dõi cá vào sáng sớm trong 5-7 ngày tiếp theo.

Giữ mang cá khỏe để vụ sau không lặp lại

Phòng thối mang thực chất là không để vi khuẩn có chỗ sinh sôi gần mang cá. Với hai loài này, nên tập trung vào các việc sau:

  • Cho trắm cỏ ăn lượng cỏ vừa ăn hết trong ngày và vớt sạch cỏ thừa trước bữa sau. Rửa qua cỏ cắt từ ruộng có bùn hoặc vùng phun thuốc.
  • Đặt khung cỏ luân phiên 2-3 vị trí để đáy dưới khung không bị dồn mùn quá dày.
  • Vét bùn đáy mỗi vụ với ao chép, rải vôi và phơi đáy trước khi thả.
  • Tắm muối cá giống trước khi thả, nhất là giống mua từ nơi khác.
  • Sát khuẩn và bổ sung vi sinh định kỳ vào các thời điểm chuyển mùa, khi nước bắt đầu ấm lên trên 25°C, vì đây là lúc thối mang hay bùng phát.

Cách quản lý chung cho cả vụ có trong bài quản lý môi trường ao nuôi thủy sản.

Kết luận

Cá bị thối mang không đáng sợ vì khó chữa, mà vì bệnh tiến triển nhanh hơn tốc độ người nuôi kịp phản ứng. Nhận ra mép tơ mang trắng từ sớm, soi thấy vi khuẩn kết bó, chọn đúng kháng sinh còn nhạy và tính đủ liều theo thể trọng là bốn việc quyết định ao còn giữ được bao nhiêu cá. Dọn sạch đáy sau điều trị sẽ giúp bệnh thối mang ở cá chép, cá rô, cá lóc và cá trắm cỏ không quay lại ở lứa sau.

Nếu ao đang có cá nổi đầu và mang trắng, người nuôi hãy chụp mang cá, quay đàn cá lúc sáng sớm và ghi lại chỉ số nước rồi gọi Hotline 0982 266 640. Kỹ sư Green Bio sẽ đọc tổn thương, tính liều theo đúng ao và theo sát cho tới khi đàn cá ăn lại, hoàn toàn miễn phí. Khi đã có phác đồ, người nuôi có thể đặt Vua Diệt Khuẩn, Bactomar hoặc xem các thuốc thủy sản cho cá của Green Bio.

Nhận tư vấn
Chat ngay
0982 266 640
GỌI NGAY