Cá chép bị nấm đuôi, đỏ đuôi là hai biểu hiện của hai nhóm tác nhân khác nhau. Đuôi phủ búi sợi trắng xám như bông là nấm thủy mi. Đuôi đỏ mép, xơ bạc rồi mòn dần là do vi khuẩn (Aeromonas hydrophila, Flavobacterium columnare) hoặc do khí độc làm sung huyết. Trong ao, hai tình trạng này thường nối tiếp nhau trên cùng một chiếc đuôi. Nếu dùng thuốc diệt nấm trong khi vi khuẩn mới là tác nhân dẫn đầu, vết tổn thương sẽ ăn dần vào cuống đuôi và cá chết rải rác kéo dài nhiều tuần. Cùng Green Bio biên soạn đọc tổn thương ngay trên đuôi cá chép và phác đồ cho từng nguyên nhân.

Cá chép bị đỏ đuôi
Cá chép bị đỏ đuôi

Nhìn đuôi cá chép thế nào để biết là nấm hay đỏ do vi khuẩn?

Chỉ cần quan sát ba điểm trên đuôi: màu của tổn thương, mép đuôi còn trơn hay đã mất mô, và hình dạng tổn thương khi nhấc cá khỏi nước. Nên vớt 5-7 con ở góc cuối gió, nơi cá yếu thường dạt vào lúc sáng sớm, rồi banh đuôi trên lòng bàn tay hoặc trên một chiếc khay trắng.

  • Có búi sợi trắng xám, ngả nâu nếu ao nhiều bùn: Trong nước, búi sợi xòe ra như bông. Khi nhấc cá lên, búi xẹp xuống thành lớp nhầy dính sát vào đuôi. Nên nghĩ tới nấm thủy mi.
  • Gân đỏ mảnh chạy dọc tia vây, mép đuôi vẫn trơn: Nhiều con cùng bị một lúc và cá vẫn ăn. Nên nghĩ tới sung huyết do môi trường, chưa phải bệnh ở đuôi.
  • Đỏ đậm ở gốc đuôi, kèm hậu môn đỏ và cá giảm ăn: Nên nghĩ tới ngay Aeromonas đã vào máu.
  • Mép đuôi trắng xám hoặc vàng nhạt, xơ như bị gặm, vùng bạc màu lan ngược lên cuống đuôi: Nên nghĩ tới Flavobacterium columnare (bệnh xơ vây, thối đuôi).
  • Chấm đỏ rải rác không theo tia vây, soi kỹ thấy con ký sinh dẹt hoặc sợi nhỏ cắm vào thịt: Nên nghĩ tới rận cá hoặc trùng mỏ neo.

Tổn thương ở đuôi chỉ là một phần trong các nhóm bệnh trên cá chép. Vì vậy cần xem thêm mang và bụng của chính những con đã vớt lên trước khi kết luận.

Vì sao cá chép thường bị nấm và đỏ ở đuôi trước tiên?

Đuôi là phần cá chép va chạm nhiều nhất trong ao. Cá chép kiếm ăn bằng cách sục mõm xuống đáy và quẫy đuôi giữ thăng bằng, nên vây đuôi cọ vào bùn suốt ngày. Ở ao có lớp bùn đáy dày và nhiều chất hữu cơ, mép đuôi luôn nằm sát nơi có mật độ vi khuẩn và bào tử nấm cao nhất.

Cá chép bị nấm đuôi
Cá chép bị nấm đuôi

Mép đuôi lại là phần mỏng nhất, mạch máu nhỏ nhất và lớp nhớt kém bền nhất. Khi kéo lưới, đánh tỉa hoặc vận chuyển, cá giãy trong lưới và mép đuôi bị trầy trước cả thân. Cá chép bố mẹ trong mùa đẻ cũng hay rách đuôi do cá đực rượt đuổi, cá cái quẫy mạnh vào giá thể. Lứa cá này thường mọc nấm đuôi sau đẻ khoảng một tuần, nhất là các đợt đẻ vụ xuân khi nước còn mát.

Từ đặc điểm này có một hệ quả thực tế: phần lớn trường hợp cá chép bị nấm đuôi bắt đầu từ một vết trầy cơ học. Chỉ một số ít trường hợp nấm tấn công trên mô hoàn toàn lành.

Bảng phân biệt các nguyên nhân gây tổn thương đuôi cá chép

Tiêu chíNấm thủy mi (Saprolegnia)Đỏ do môi trường (NH3, pH, sốc)Đỏ do AeromonasXơ đuôi do F. columnareKý sinh (rận cá, trùng mỏ neo)
Hình ảnh trên đuôiBúi sợi trắng xám hoặc nâu, xòe trong nướcGân đỏ mảnh dọc tia vâyMảng đỏ đậm ở gốc đuôi, có thể loétMép trắng xám hoặc vàng nhạt, xơ, mòn dầnChấm đỏ rải rác, có thể thấy con ký sinh
Mép đuôiThường đã có vết trầy bên dướiCòn nguyên, trơnCòn hoặc rách khi nặngMất mô, tua ruaCòn nguyên, có lỗ chích
Số con bịVài con trầy xước, rải rácNhiều con cùng lúcTăng dần qua từng ngàyLan nhanh trong ao mật độ caoRải rác, tập trung ở cá yếu
Điều kiện hay gặpSau lạnh đột ngột, sau kéo lưới, vận chuyểnSau mưa, tảo tàn, đáy bẩnGiao mùa, nhiệt độ dao động lớnAo ương dày, nước nhiều hữu cơAo không diệt tạp, nhập giống chưa kiểm tra
Soi tươiSợi nấm dài, phân nhánh, không vách ngănKhông thấy tác nhânCần nuôi cấyVi khuẩn dạng sợi mảnh xếp thành đámThấy ký sinh trùng bằng mắt thường hoặc kính lúp
Hướng xử lý chínhTắm muối hoặc sát trùng nướcSửa môi trường, không cần thuốcSát khuẩn nước, kháng sinh trộn ăn khi nặngSát khuẩn nước, kháng sinh theo độ nhạyDiệt ký sinh trước, sát khuẩn sau

Trên thực tế, hai cột dễ bị nhầm nhất là nấm thủy mi và xơ đuôi do F. columnare. Cả hai đều tạo vùng trắng ở mép đuôi. Cách phân biệt là nhấc cá khỏi nước: búi nấm xẹp xuống thành nhớt, còn vùng xơ do vi khuẩn thì vẫn giữ hình dạng, khô và bám chặt vào tia vây.

Nếu muốn xác định chắc hơn, có thể soi một mẩu mép đuôi dưới kính hiển vi. Sợi nấm to, phân nhánh rõ, đôi khi có túi bào tử ở đầu sợi. F. columnare là những sợi vi khuẩn rất mảnh, xếp thành từng đám rung động. Người nuôi có thể chụp ảnh tiêu bản qua thị kính rồi gửi kỹ sư Green Bio đọc giúp.

Mảng trắng trên thân không phải lúc nào cũng là nấm. Phần phân biệt cho các vị trí khác trên cơ thể có trong bài cá bị nấm trắng.

Quyết định phác đồ đuôi đỏ trước hay mốc trắng trước

Ở cá chép nuôi ao, chúng tôi gặp hai kiểu diễn tiến. Phác đồ cho hai kiểu này ngược nhau.

Vi khuẩn mở đường, nấm đến sau

Mép đuôi đỏ lên trước, vài ngày sau chuyển bạc và xơ. Phần mô chết ở mép trở thành chỗ bám cho bào tử nấm, nên một búi bông mọc trên nền đỏ. Dấu hiệu nhận biết là viền đỏ rộng nằm giữa búi nấm và phần đuôi còn lành. Kiểu này hay gặp vào giao mùa, khi nước còn ấm nhưng nhiệt độ ngày đêm chênh lệch lớn. Nếu chỉ tắm muối hoặc diệt nấm, búi bông sẽ bong ra nhưng mép đuôi vẫn tiếp tục mòn, vì vi khuẩn chưa bị xử lý.

Nấm nguyên phát, vi khuẩn bội nhiễm sau

Búi nấm mọc ngay trên vết trầy sau kéo lưới hoặc vận chuyển, lúc nước đang lạnh. Phần ranh giới giữa nấm và mô lành gọn, ít đỏ. Nếu để quá 5-7 ngày, sợi nấm ăn sâu vào da, tạo vết loét và lúc đó mới xuất hiện viền đỏ do vi khuẩn bội nhiễm (nhiễm khuẩn kèm theo).

Vì vậy, câu hỏi cần trả lời trước khi mua thuốc không chỉ là “có nấm không” mà là viền đỏ quanh tổn thương rộng hay hẹp. Viền rộng thì phải xử lý vi khuẩn trước hoặc xử lý cùng lúc với nấm. Viền hẹp, ranh giới gọn và cá vẫn ăn thì xử lý nấm là đủ.

Mùa nào cá chép hay bị nấm đuôi, mùa nào hay bị đỏ đuôi?

Nấm đuôi tập trung vào cuối đông đầu xuân và sau những đợt rét đột ngột. Tài liệu của Trung tâm Thủy sản vùng Nam Hoa Kỳ (SRAC) ghi nhận bệnh nấm mùa đông xảy ra chủ yếu khi nước dưới 15 °C, và cá chết thường tăng khi nước bắt đầu ấm lên vào đầu xuân. Số liệu này đo trên cá nheo Mỹ. Ở các vùng nuôi cá chép miền Bắc, chúng tôi cũng thấy quy luật tương tự. Những ao vừa kéo lưới bán Tết hoặc san cá giống trong tháng lạnh thường mọc nấm đuôi rộ sau đó 1-2 tuần.

Cá chép bị bệnh nấm đuôi
Cá chép bị bệnh nấm đuôi

Điều đáng chú ý là bản thân nấm Saprolegnia lại phát triển nhanh nhất ở khoảng 25 °C, theo một nghiên cứu phân lập nấm trên trứng và cá bột tại ĐBSCL. Như vậy, nước lạnh không làm nấm khỏe hơn mà làm cá chép yếu đi: lớp nhớt mỏng lại, vết trầy lâu lành và sức đề kháng giảm. Người nuôi cần duy trì nhiệt độ nước thích hợp và hạn chế thao tác đánh bắt khi trời chuyển rét.

Đỏ đuôi do Aeromonas lại hay bùng vào giao mùa xuân hè và hè thu, sau mưa dông khi tảo tàn và đáy ao bốc khí. Xơ đuôi do F. columnare thì gặp ở khoảng nhiệt độ rộng, nên mùa vụ không giúp loại trừ được tác nhân này.

Phác đồ xử lý cá chép bị nấm đuôi

Nấm mới xuất hiện ở vài con, cá vẫn ăn

Với cá giống, cá bố mẹ hoặc lô cá nhỏ có thể vớt ra được, tắm nước muối 2-3% trong 5-10 phút là cách rẻ và hiệu quả nhất. Phải có người đứng canh, cá nghiêng mình thì vớt ra ngay. Muối làm sợi nấm mất nước và kích thích cá tiết lại nhớt. Với ao lớn, chỉ cần giữ nước sạch, giảm 20-30% lượng thức ăn và không kéo lưới thêm. Phần lớn ca mới chớm sẽ tự dừng khi nhiệt độ ổn định trở lại.

Có thể dùng thuốc tím (KMnO4) tạt ao với liều thông dụng 2-4 g/m³. Ao càng nhiều hữu cơ thì thuốc mất tác dụng càng nhanh. Cá chép giống cỡ nhỏ nhạy với thuốc tím quá liều, vì vậy nên thử liều trên một chậu cá trước khi tạt cả ao.

Nấm lan sang nhiều con hoặc mọc trên cá bố mẹ sau đẻ

Khi nhiều con cùng bị, cần giảm mật độ bào tử ngay trong nước ao. Nên chọn chất sát trùng diệt được cả nấm lẫn vi khuẩn, vì vết nấm đã lan rộng thì gần như luôn có vi khuẩn bội nhiễm đi kèm. Phối hợp glutaraldehyde với benzalkonium chloride (BKC) đáp ứng được yêu cầu này và ít làm biến động pH.

Vua Diệt Khuẩn của Green Bio chứa đúng hai hoạt chất trên và có ghi công dụng với nấm bông, thối vây, trắng đuôi trên cá. Liều trị là 1 lít cho 2.000 m³ nước, tạt vào lúc trời nắng và bật quạt hoặc sục khí trong khi tạt. Không đánh liên tục nhiều ngày và ngưng thuốc 3 ngày trước khi thu hoạch. Với cá giống nhỏ, nên gọi kỹ sư để được tính liều theo thể tích ao thực tế.

Vua Diệt Khuẩn diệt các các mầm bệnh trong ao nuôi
Vua Diệt Khuẩn diệt các các mầm bệnh trong ao nuôi

Đối với cá chép bố mẹ, chúng tôi tắm muối từng con trước khi thả lại ao nuôi vỗ. Cách này hiệu quả hơn tạt thuốc cả ao, vì nấm sau đẻ chỉ tập trung ở những con bị rách đuôi.

Không dùng xanh malachite

Xanh malachite từng được dùng nhiều để trị nấm nhưng hiện đã bị cấm trong nuôi trồng thủy sản. Chất này để lại tồn dư lâu trong thịt cá. Xanh methylen chỉ phù hợp với cá cảnh trong bể. Cách trị nấm cho cá cảnh có trong bài bệnh nấm thủy mi trên cá.

Phác đồ xử lý cá chép bị đỏ đuôi

Gân đỏ mảnh, mép đuôi còn nguyên

Đây là sung huyết, chưa phải bệnh ở đuôi. Cần đo khí độc NH3 và pH cả buổi sáng lẫn buổi chiều, thay 20-30% nước và giảm lượng thức ăn. Khi môi trường được sửa kịp thời, gân đỏ thường nhạt dần sau 2-3 ngày. Cách phân biệt chi tiết theo vị trí vệt đỏ có trong bài cá chép nổi gân máu ở đuôi và vây.

Nếu soi thấy chấm đỏ có ký sinh, cần diệt trùng mỏ neo và rận cá trước, vì kháng sinh không có tác dụng với giáp xác.

Đỏ đậm ở gốc đuôi, hậu môn đỏ, cá chết tăng dần

Ở giai đoạn này, vi khuẩn Aeromonas đã vào máu, nên sát khuẩn nước chỉ giúp giảm mầm bệnh bên ngoài. Cần dùng kháng sinh trộn vào thức ăn trong danh mục được phép, theo chỉ định của kỹ sư. Phối hợp sulfadimidine với trimethoprim chặn hai bước liên tiếp trong quá trình vi khuẩn tổng hợp axit folic, và đây là lựa chọn hợp lý với Aeromonas khi chưa có kháng sinh đồ.

Marvatil chứa đúng cặp hoạt chất này và có ghi tác dụng với Aeromonas trên cá. Với cá chép, liều dùng theo hướng dẫn của kỹ sư. Cần ngưng thuốc 4 tuần trước khi thu hoạch. Cá bệnh ăn ít, nên chỉ trộn thuốc vào phần thức ăn chắc chắn cá ăn hết.

Marvatil
Marvatil là kháng sinh thế hệ mới chuyên trị cá bị đỏ đuôi

Trình tự sát khuẩn, trộn kháng sinh và phục hồi gan được trình bày đầy đủ trong bài phác đồ xuất huyết vây, xuất huyết đuôi.

Mép đuôi bạc, xơ, ăn lẹm dần vào cuống đuôi

Đây là trường hợp dễ dùng sai thuốc nhất. F. columnare là vi khuẩn bám ngoài da, nên giai đoạn đầu xử lý trong nước có hiệu quả rõ. Người nuôi có thể dùng đồng sunfat (CuSO4) liều thông dụng 0,5-0,7 g/m³, hoặc dùng chất sát trùng phối hợp glutaraldehyde với BKC như ở phần trị nấm. Không dùng đồng sunfat khi độ kiềm thấp hoặc ao nước mềm, vì độc tính của đồng tăng mạnh.

Khi cá chết tăng và vùng xơ đã lan lên cuống đuôi, phải dùng kháng sinh. Tuy nhiên, chọn nhóm sulfamid theo thói quen dễ bị thất bại. Một nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam trên cá trắm cỏ miền Bắc, cùng họ cá chép, cho thấy F. columnare còn nhạy cao với doxycycline, amoxicillin, florfenicol và oxytetracycline (92-100% số chủng). Trong khi đó, tỷ lệ chủng kháng sulfamethoxazole/trimethoprim lên tới khoảng 44%.

Vì vậy, trường hợp xơ đuôi nên ưu tiên kháng sinh doxycycline hoặc florfenicol, và tốt nhất là làm kháng sinh đồ khi ao đã điều trị một đợt mà không khỏi. Cá tra giống cũng mắc bệnh do cùng tác nhân này. Bài bệnh thối đuôi trên cá tra có thể dùng để đối chiếu cách diễn tiến.

Tình trạng đuôiƯu tiên xử lýKhi nào cần kháng sinh
Gân đỏ, mép còn nguyênSửa nước, giảm thức ănKhông cần
Đỏ gốc đuôi, hậu môn đỏSát khuẩn nước, trộn kháng sinh nhóm sulfamid phối hợp trimethoprimKhi cá giảm ăn và chết tăng dần
Mép bạc, xơ, mònCuSO4 hoặc sát trùng nướcKhi lan lên cuống đuôi, ưu tiên doxycycline hoặc florfenicol
Búi bông nấm, ranh giới gọnTắm muối, thuốc tím hoặc sát trùngKhông cần
Búi bông trên nền đỏ rộngSát khuẩn diệt cả nấm và khuẩnKhi có dấu hiệu xuất huyết nội tạng

Khi đuôi vừa đỏ vừa mốc trắng, xử lý theo thứ tự nào?

Cần xử lý vi khuẩn trước hoặc xử lý cùng lúc, không được chỉ diệt nấm. Ngày đầu tiên, tạt chất sát trùng có phổ diệt cả nấm và khuẩn. Từ ngày thứ hai, nếu cá có dấu hiệu nhiễm khuẩn toàn thân (hậu môn đỏ, bụng có dịch), bắt đầu trộn kháng sinh vào thức ăn. Tắm muối cho cá bố mẹ hoặc cá giống chỉ nên làm sau khi đã kiểm soát được vi khuẩn. Muối giúp búi nấm bong ra nhưng không ngăn được mép đuôi tiếp tục mòn.

Ba lưu ý riêng cho tình huống đuôi vừa đỏ vừa mốc:

  • Không tạt thuốc tím cùng ngày với chất sát trùng gốc glutaraldehyde. Hai chất làm giảm tác dụng của nhau, đồng thời làm cá vốn đã tổn thương đuôi bị sốc thêm. Nên cách nhau ít nhất 1-2 ngày.
  • Không kéo lưới để tắm muối cho cả ao khi nước dưới 18 °C. Mỗi lần kéo lưới lại tạo thêm vết trầy mới ở đuôi, đúng nơi nấm đang chờ bám.
  • Sau 1-2 ngày sát khuẩn, cần bổ sung lại vi sinh thủy sản để phân hủy lớp bùn hữu cơ nơi cá chép sục đuôi hằng ngày.

Đuôi cá chép có mọc lại sau khi khỏi bệnh không?

Đuôi có mọc lại nếu tổn thương chưa ăn tới cuống đuôi. Dấu hiệu điều trị thành công là mép đuôi hết bạc và hết xơ, sau đó xuất hiện một viền mới mỏng, trong suốt, chưa có màu ở đầu tia vây. Viền này dày và sẫm màu dần qua vài tuần. Nếu sau 5-7 ngày điều trị mà mép đuôi vẫn còn viền trắng đục hoặc vùng bạc tiếp tục lan lên trên, phác đồ chưa đúng tác nhân. Lúc đó cần soi mẫu lại thay vì tăng liều.

Những con đã mất tới cuống đuôi thì bơi lệch, ăn kém và chậm lớn. Với ao cá thịt, nên loại những con này để đàn đều cỡ và giảm nguồn lây.

Giữ đuôi cá chép lành qua những thời điểm rủi ro

Phòng bệnh ở đuôi cá chép chủ yếu là hạn chế vết trầy và giảm lớp bùn nơi cá sục đáy:

  • Trước khi kéo lưới hoặc san cá: Cho cá nhịn ăn một bữa, dùng lưới mắt mềm, đánh bắt lúc trời mát. Không đánh bắt ngay trước hoặc trong đợt rét.
  • Khi thả cá giống mới: Tắm muối 2-3% trước khi thả, đồng thời soi kiểm tra ký sinh trùng ngoài da trên cá. Rận cá và trùng mỏ neo tạo lỗ chích là cửa ngõ cho cả nấm lẫn vi khuẩn.
  • Trong mùa đẻ: Tách cá cái đã đẻ ra ao riêng có nước sạch và kiểm tra đuôi từng con.
  • Trước mùa lạnh: Hút bớt bùn hoặc dùng vi sinh xử lý đáy, giữ mức nước sâu để nhiệt độ ổn định.
  • Ao ương mật độ cao: San thưa sớm, vì cá chép giống chen chúc và cắn đuôi nhau là điều kiện thuận lợi cho F. columnare.

Kết luận

Cá chép bị nấm đuôi và đỏ đuôi phải được xử lý theo thứ tự khác nhau. Bông nấm có ranh giới gọn thì chỉ cần muối hoặc sát trùng. Đuôi đỏ rộng, xơ bạc hoặc bông nấm mọc trên nền đỏ thì phải xử lý vi khuẩn trước, và nên chọn kháng sinh theo độ nhạy thay vì theo thói quen. Quan sát kỹ viền đỏ quanh tổn thương ngay từ ngày đầu sẽ giúp tiết kiệm đáng kể chi phí thuốc và số cá hao hụt.

Nếu chưa chắc đuôi cá đang bị nấm hay vi khuẩn, người nuôi có thể gọi Hotline 0982 266 640 hoặc gửi cho kỹ sư Green Bio ảnh đuôi cá banh trên nền trắng (cả lúc dưới nước và khi nhấc lên), ảnh tiêu bản soi tươi nếu có, cùng nhiệt độ nước và những việc đã làm trong ao 3 ngày gần nhất. Kỹ sư sẽ đọc mẫu, tính liều theo thể tích ao thực tế và theo dõi ao cho tới khi đuôi cá mọc lại. Khi đã xác định đúng tác nhân, người nuôi có thể đặt Vua Diệt Khuẩn, Marvatil hoặc xem thêm các thuốc thủy sản cho cá của Green Bio.

Nhận tư vấn
Chat ngay
0982 266 640
GỌI NGAY