Ngành tôm hùm Việt Nam đang ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý trong năm 2026 khi xuất khẩu tiếp tục mở rộng mạnh. Tuy nhiên, quy mô nuôi tăng nhanh, nguồn giống thiếu ổn định và áp lực môi trường đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất theo hướng kiểm soát tốt hơn và giảm phụ thuộc vào phương thức nuôi truyền thống.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 11.790 tấn tôm hùm, đạt kim ngạch 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước. Trước đó, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đã đạt mức kỷ lục 858 triệu USD. Trung Quốc hiện vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm tới 98,53% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Ảnh minh họa: Tôm hùm thương phẩm

Sự phát triển nhanh của ngành nuôi thể hiện rõ tại các vùng sản xuất trọng điểm. Đắk Lắk và Khánh Hòa hiện chiếm hơn 95% tổng số lồng và sản lượng tôm hùm của cả nước. Riêng Khánh Hòa, số lượng lồng nuôi tăng từ 74.443 lồng năm 2023 lên 126.552 lồng năm 2025. Trong nửa đầu năm 2026, địa phương này đã có 137.136 lồng, với sản lượng đạt hơn 10.270 tấn.

Tại Đắk Lắk, quy mô nuôi hiện vào khoảng 160.000 lồng trên diện tích 2.500 ha. Tuy nhiên, hơn 80% số lồng tập trung tại khu vực ven bờ, khiến mật độ nuôi cao và làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường cũng như dịch bệnh. Địa phương đang định hướng giảm quy mô xuống khoảng 48.000 lồng trên 1.000 ha, đồng thời khuyến khích phát triển mô hình nuôi công nghệ cao và mở rộng nuôi xa bờ.

Một trong những điểm nghẽn lớn của ngành hiện nay là con giống. Nhu cầu tôm hùm giống trên cả nước vào khoảng 100 – 120 triệu con mỗi năm, trong khi nguồn khai thác tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 10%. Việc thiếu nguồn giống nhập khẩu chính ngạch trong nửa đầu năm 2026 đã khiến giá giống tăng lên khoảng 45.000 – 70.000 đồng/con, tạo thêm áp lực chi phí cho người nuôi.

Bên cạnh con giống, phương thức nuôi truyền thống cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Việc sử dụng thức ăn tươi và nuôi tập trung bằng lồng bè khiến lượng chất thải phát sinh lớn, tăng áp lực lên môi trường nước. Tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi tôm hùm hiện được ghi nhận ở mức khoảng 30 – 35%.

Một hướng thay đổi đang được nghiên cứu là sử dụng thức ăn công nghiệp. Kết quả thử nghiệm cho thấy tôm hùm xanh có thể chấp nhận hoàn toàn loại thức ăn này. Trong thử nghiệm ngoài lồng bè, tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 80% so với khi sử dụng cá mồi, trong khi tỷ lệ sống đạt khoảng 70% và khả năng hạn chế dịch bệnh tốt hơn so với một số loại thức ăn tươi. Mục tiêu trong những năm tới là từng bước giảm và tiến tới thay thế thức ăn tươi đối với tôm hùm xanh.

Cùng với cải thiện thức ăn, ngành tôm hùm đang hướng tới việc kiểm soát mật độ nuôi phù hợp với sức tải môi trường, mở rộng lồng HDPE, cấp mã số vùng nuôi và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc. Đây cũng là những yếu tố ngày càng quan trọng khi thị trường nhập khẩu nâng cao yêu cầu về tính hợp pháp và nguồn gốc sản phẩm.

Theo định hướng của ngành thủy sản, tôm hùm tiếp tục được xác định là một trong những đối tượng quan trọng của chiến lược phát triển nuôi biển. Mục tiêu đặt ra là duy trì mức tăng trưởng giá trị sản xuất khoảng 8% mỗi năm và hướng tới đóng góp khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, việc chuyển từ mở rộng số lượng lồng sang nâng cao chất lượng, công nghệ và khả năng kiểm soát chuỗi sản xuất sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

Nhận tư vấn
Chat ngay
0982 266 640
GỌI NGAY