Tôm thẻ chân trắng hiện là đối tượng nuôi chủ lực tại Việt Nam, mang lại giá trị kinh tế cao và góp phần cải thiện đời sống cho người nuôi. Tuy nhiên, song song với sự phát triển đó, dịch bệnh – đặc biệt là bệnh do vi khuẩn – ngày càng diễn biến phức tạp, trở thành nỗi lo lớn của bà con.
Đặc biệt, sau những cơn mưa lớn hoặc kéo dài, môi trường ao nuôi biến động mạnh (pH, độ mặn, nhiệt độ…), tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nhanh chóng và tấn công tôm.
Dưới đây là những bệnh do vi khuẩn phổ biến trên tôm nuôi mà bà con cần đặc biệt lưu ý:
1. Bệnh hoại tử gan tụy cấp EMS/AHPND
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang Plasmid pVA1 sản sinh độc tố PirAB, PirAB làm hủy hoại gan tụy của tôm chỉ trong vòng vài giờ sau khi xâm nhập, đây là một trong những bệnh nguy hiểm nhất hiện nay, gây tỷ lệ chết 80-100% trong vòng 3-10 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng.
Dấu hiệu bệnh:
– Tôm nhiễm bệnh EMS/AHPND giai đoạn đầu có vỏ mềm, đường tiêu hóa rỗng hoặc đứt đoạn, giảm ăn, có thể bị phân trắng kéo dài
– Tôm bệnh bơi lờ đờ và có phản ứng chậm, rớt đáy nhiều
– Gan tụy tôm bệnh có thể có nhiều triệu chứng rất khác nhau, bao gồm sưng to và mềm nhũn, hoặc teo nhỏ và dai (gan cao su), có màu lạ hoặc có các đốm đen do lắng đọng Melanin từ hoạt động của tế bào máu xuất hiện trong gan tụy
– Ở giai đoạn bệnh bùng phát mạnh (từ ngày 10 đến 35 sau thả), tỉ lệ tử vong của cả quần thể tôm trong cùng một khu vực có thể lên đến 100%.
2. Hội chứng phân trắng-White Feces Syndrom (WFS)
Nguyên nhân:
– Do trùng 2 tế bào Gregarine ký sinh trong ruột tôm
– Thể Vermiform bong tróc từ các tế bào biểu mô của ống gan tụy
– Do tảo độc (như tảo lam), nấm đồng tiền
– Hàm lượng oxy hòa tan thấp trong ao kéo dài (mưa kéo dài nhiều giờ, thay đổi nhiệt độ, pH và hàm lượng oxy hòa tan thấp < 3 mg/L)
– Do vi khuẩn Vibrio sp.: Vibrio parahaemolyticus, Vibrio vulnificus…
– Do bội nhiễm EHP
Dấu hiệu bệnh:
– Tôm ăn yếu, giảm ăn rõ sau 1-2 ngày phát hiện phân trắng trong ao
– Đường ruột bị mờ đục, đứt khúc hoặc trống, không có thức ăn trong ruột, thành ruột mỏng, dịch ruột lỏng, màu vàng nâu
– Tôm có thể mềm vỏ, ốp thân
– Phân tôm bị nát, nhợt nhạt, nổi trên mặt nước, thường tập trung ở cuối đầu gió, góc ao hoặc trong sàn ăn
3. Bệnh đốm đen
Nguyên nhân: Tác nhân chính do vi khuẩn Vibrio harveyi trong ao phát triển quá mức sẽ ăn mòn lớp vỏ chitin, quá trình melanin hóa làm lành vết thương sẽ để lại những đốm đen trên cơ thể tôm. Ngoài ra, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus cũng được xác định là tác nhân tôm bị nhiễm bệnh đốm đen. Nền đáy ao ô nhiễm, hàm lượng oxy hòa tan thấp tạo điều kiện bệnh bùng phát nhanh.
Dấu hiệu bệnh:
– Xuất hiện các đốm đen trên vỏ tôm, tôm giảm ăn lờ đờ, ốp thân, chết rãi rác trong vòng 15- 30 ngày
– Gây thiệt hại về kinh tế nếu không phát hiện và điều trị sớm
4. Bệnh phát sáng
Nguyên nhân: Bệnh do chủng vi khuẩn Vibrio sp: Vibrio Harveyi, V.Campbellii, V.alginolyticus. Đặc biệt là Vibrio harveyi tiết ra enzyme luciferase gây phát quang, tấn công gan tụy tôm. Bệnh thường xảy ra vào mùa nóng, nhiệt độ nước cao và môi trường nước giàu dinh dưỡng, hàm lượng chất hữu cơ cao, nồng độ oxy hòa tan thấp và thường ở ao có độ mặn cao >15 ppt.
Dấu hiệu lâm sàng:
– Chủ yếu xảy ra ở giai đoạn tôm post, cơ thể tôm phát sáng vào buổi tối, tôm bỏ ăn lờ đờ, bơi không định hướng
– Gan tụy nhợt nhạt, chết hàng loạt. Gây thiệt hại nặng nề trong giai đoạn ương ấu trùng tôm, tỷ lệ chết lên đến 90%
5. Bệnh đốm trắng do vi khuẩn
Nguyên nhân: Vi khuẩn gây hội chứng đốm trắng (Bacterial White Spot Syndrome – BWSS) một số nghiên cứu cho rằng có liên quan đến một số loài thuộc họ Bacillaceae.
Dấu hiệu lâm sàng:
– Tôm sinh trưởng bình thường tỷ lệ chết thấp 20-30% trong vòng 10 ngày
– Tôm bệnh có các đốm trắng mờ đục nhìn thấy trên vỏ khắp cơ thể. Hiện tượng ăn mòn làm lớp vỏ thoái hóa và mất màu sắc
– Đốm trắng hình tròn, nhỏ và ít hơn đốm trắng do vi-rút (WSSV). Soi mẫu tươi dưới kính hiển vi đốm trắng có dạng lan tỏa hình địa y với viền kiểu gờ khía tròn ở giữa rỗng, trong khi đó đốm trắng do vi-rút có đốm đen (melanin) ở giữa.
Giải pháp phòng trị tổng hợp bệnh do vi khuẩn trên tôm nuôi
1. Quản lý môi trường, quản lý cho ăn
– Xử lý nước đầu vào: nước phải được lắng lọc và khử trùng Chlorine, thuốc tím, BKC… trước khi thả tôm hoặc cấp vào ao nuôi để loại bỏ mầm bệnh ngoài tự nhiên
– Sử dụng chế phẩm sinh học (Probiotics): định kỳ vào môi trường nước và thức ăn
– Mật độ thả phù hợp, cho ăn vừa đủ tránh dư thừa làm ô nhiễm đáy ao
– Tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng vitamin C, beta- Glucan…
– Diệt khuẩn định kỳ 5 ngày/lần bằng chế phẩm phage PHAGE PRO 1 chai/2000 – 3000 m3 nước, để giảm mật độ vi khuẩn gây bệnh trong tôm mà không lo sốc tôm
– Định kỳ hàng tuần kiểm tra mật độ khuẩn Vibrio trong ao để kiểm soát khuẩn
2. Xử lý nhanh khi mật độ khuẩn Vibrio sp. cao
– Diệt khuẩn nhanh bằng chế phẩm phage PHAGE PRO: 1 chai/1000 m3 nước, vào chiều mát hoặc sáng sớm
*Nếu mật độ khuẩn trong ao quá cao, có thể kết hợp PHAGE PRO với iodine để tăng hiệu quả diệt khuẩn
– Cấy vi sinh lại sau 24-36 giờ diệt khuẩn bằng sản phẩm: BIO ENZYME
– Giảm 50% lượng thức ăn, trộn cho ăn B52 hoặc BIOTIC PRO
*Trường hợp bệnh nặng: trộn ăn thêm kháng sinh 2 cữ/ngày, liên tục 3 ngày
– Bổ sung thêm GREENMAX tăng cường chức năng gan
Thực hiện bởi: Phòng kỹ thuật Green Bio


BÀI VIẾT LIÊN QUAN